lịch sử việt nam

Trang Chính

Bản Lên Tiếng Của Thư Viện Hoa Sen:

Bưu-Hoa Tem Thư Việt-Nam Cộng-Hòa:

Biển Cả Và Con Người:

Blogs (Bản Tin các Blogs;  Blog Ba Sàm; Blog Cầu Nhật-Tân; Blog Chu-Mộng-Long; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo; Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Diễn-Đàn Công-Nhân; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Huỳnh-Ngọc-Chênh; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào; Blog Quê Choa VN; )

Chết Bởi Trung Cộng

Lịch Sử Trung Cộng Cướp Nước Việt-Nam

Những Sự Thật Cần Được Biết Về Sinh-Hoạt Cộng Đồng Việt-Nam

Những Sự Thật Lịch-Sử Cần Phải Biết Về Lịch-Sử Và Phật Giáo Việt Nam

Pháp Luân Đại Pháp Cứu Độ Chúng Sanh

Sitemap

Tự-Điển Địa Linh Nhân Kiệt Của Việt-Nam

 

 

 

Tự-Điển Địa-Linh Nhân-Kiệt Của Việt-Nam

Thần Việt Điện 2010 

Chuyên-mục Tự-Điển Địa-Linh Nhân-Kiệt Của Việt-Nam được thành lập nhằm vinh-danh những anh-hùng, anh-thư đã dầy ân đức đối với đất nước và dân-tộc Việt-Nam qua nhiều thời đại nhân dịp Giổ Tổ Hùng Vương Việt lịch 4893 cũng như kỷ-niệm lần thứ 59 Quốc Khánh 26-10.   

Thiên Tài Quân Sự Việt-Nam Nguyễn-Văn-Hiếu

quân sử, quân sử Việt Nam, lich su viet nam, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu

Tướng Nguyễn-Văn-Hiếu Chiến Tích Tại Bình-Định 1967  

VƯƠNG HỒNG ANH 

Nguồn: Việt Báo

* Tướng Nguyễn Văn Hiếu và Sư đoàn 22 BB tại Bình Định năm 1967

Đầu năm 1967, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã khởi động cuộc hành quân hỗn hợp để truy kích CQ trên toàn tỉnh Bình Định, tỉnh lớn nhất ở khu vực Duyên hải Trung nguyên Trung phần, gồm 12 quận với dân số gần 1 triệu người (tính đến cuối năm 1966) và là nơi có nhiều đơn vị chủ lực CSBV tập trung. Để có đủ lực lượng truy lùng CQ trên một vùng rộng lớn, 3 đại đơn vị Việt-Mỹ-Hàn đã được điều động tham chiến: Sư đoàn 22 Bộ binh VNCH, Sư đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn, Sư đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ (HK).

Vào thời gian này, bản doanh Sư đoàn 22BB đóng tại Bà Gi và vị tư lệnh là Tướng Nguyễn Văn Hiếu. Tướng Hiếu đã hai lần giữ chức tư lệnh Sư đoàn 22 BB, lần thứ nhất từ 7/9/1964 đến 24/10/1964 khi ông mang cấp đại tá. Lần thứ hai, từ 23/6/1966 đến 11/8/1969, và trong thời gian này ông lần lượt được thăng cấp chuẩn tướng vào gần cuối năm 1996 và thăng thiếu tướng vào giữa năm 1968. Rời Sư đoàn 22 BB, ông được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 5 BB từ tháng 8/1969 đến giữa năm 1971. Sau đó, Tướng Hiếu được bổ nhiệm giữ chức Phụ tá đặc biệt của Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Vào tháng 3/1975, Tướng Hiếu là Tư lệnh phó Quân đoàn 3, ông đã tử nạn vào hạ tuần tháng 4/1975)

Trở lại với các Sư đoàn thuộc lực lượng Đồng minh, Sư đoàn 1 Không kỵ HK đặt hậu cứ tại An Khê, Sư đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn đặt Bộ Tư lệnh hành quân tại Văn Canh. Trong cuộc hành quân nói trên, vùng hoạt động của Sư đoàn 22 BB là 4 quận phía Bắc tỉnh Bình Định: Tam Quan, Bồng Sơn, Phù Mỹ, Phù Cát; khu vực phía Nam gồm ngoại vi thị xã Qui Nhơn, Tuy Phước, Phú Phong và Văn Cảnh là vùng hành quân của Sư đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn; khu vực phía Tây gồm An Khê, Vĩnh Thạnh, An Lão và Hoài Ân là vùng hành quân của Sư đoàn 1 Không Kỵ HK.

Theo kế hoạch, Sư đoàn 1 Không Kỵ HK sẽ khởi động hành quân trong vùng trách nhiệm trước ngày N ba ngày, kế tiếp mới đến cuộc tiến quân của lực lượng VNCH và lực lượng Đại Hàn. Trong 3 ngày đầu của cuộc hành quân, với ưu thế về phương tiện trực thăng và hỏa lực không quân, Sư đoàn 1 Không Kỵ đã đổ quân ngay khu vực trung tâm của Cộng quân tại quận Hoài Ân và Bình Thạnh, các đơn vị bộ chiến của Sư đoàn này đã tỏ xông xáo cố tìm Cộng quân để triệt hạ thế nhưng đối phương đã tránh né tất cả các cuộc giao tranh với đơn vị Hoa Kỳ vì biết rõ Sư đoàn Không Kỵ HK có hỏa lực không yểm rất mạnh.

* Tướng Nguyễn Văn Hiếu và Tướng Norton về kế hoạch tấn công của Liên quân Việt-Mỹ.

Vào ngày N-1, khi bộ Tư lệnh Sư đoàn 22 BB chuẩn bị điều động các cánh quân thì đúng 11 giờ đêm ngày này, Thiếu tướng Norton, Tư lệnh Sư đoàn 1 Không Kỵ HK, đáp trực thăng xuống bộ Tư lệnh Sư đoàn 22 BB và vào gặp Tướng Nguyễn Văn Hiếu. Thiếu tướng Norton yêu cầu Tướng Hiếu hủy bỏ cuộc tấn công vào phía Tây quận Phù Mỹ, để phối hợp với Sư đoàn 1 Không Kỵ HK tấn công vào An Lão, khu vực mà vị Tướng Hoa Kỳ tin rằng các đơn vị của Sư đoàn 3 Sao Vàng CSBV đang tập trung quân. Tướng Hiếu cho sĩ quan tùy viên đi gọi Thiếu tá Trịnh Tiếu, trưởng phòng 2 Sư đoàn 22 BB (một thời gian sau Thiếu tá Tiếu được thăng trung tá, rồi đại tá, giữ chức Trưởng phòng 2 Quân đoàn 2 cho đến ngày CQ tấn công vào Ban Mê Thuột vào thượng tuần tháng 3/1975). Theo lời kể của cựu Đại tá Trịnh Tiếu, nội dung cuộc gặp gỡ này được ghi lại như sau.

Tại văn phòng Tư lệnh Sư đoàn 22 BB, Thiếu tá Trịnh Tiếu đã trình bày với 2 vị tướng là ông đã gặp một du kích VC đang hoạt động ở vùng đồi núi phía Tây quận Phù Mỹ, du kích này được Thiếu tá Tiếu thu phục làm mật báo viên cho phòng 2, ông đã tốn rất nhiều tiền bạc để nuôi gia đình của y. Ba ngày trước đó, mật báo viên này đã báo cho Thiếu tá Tiếu biết có nhiều đơn vị của Sư đoàn 3 Sao Vàng trú quân tại vùng ranh giới giữa quận Phù Mỹ và Hoài Ân. Theo phân tích và giải trình của Thiếu tá Tiếu, khi đối chiếu với các tin tức trước do du kích này cung cấp thì nguồn tin mới nhận có thể tin được, và theo ước định của phòng 2 thì một vài trung đoàn của sư đoàn 3 Sao Vàng CSBV đang ém quân tại đây.

Sau khi nghe Thiếu tá Tiếu trình bày, Thiếu tướng Norton nói với Tướng Hiếu: “Hôm nay tôi đã cho một đại đội Trinh sát trực thăng vận vào khu vực đó để tìm và tiêu diệt địch, nhưng không có cuộc đụng độ nào. Tôi biết việc điều động quân như vậy là sai vì đó là vùng hành quân của Sư đoàn 22 BB VNCH, thế nhưng vì nóng lòng tiêu diệt địch mà tôi phải làm như thế.” Tướng Norton hỏi vị trưởng phòng 2 Sư đoàn 22 BB: “Thiếu tá có tin chắc là có địch quân tại mục tiêu đó không?” Không một chút do dự, Thiếu tá Tiếu trả lời ngay: Cộng quân rất né tránh đụng độ với các đơn vị Hoa Kỳ vì địch sợ hỏa lực của các ông. Tôi tin là Sư đoàn 22 BB của chúng tôi sẽ đụng độ với sư đoàn 3 Sao Vàng tại mục tiêu này.

Tiếp theo sự xác định của Thiếu tá Trịnh Tiếu, Tướng Hiếu đã nhã nhặn nói với vị tư lệnh Sư đoàn 1 Không kỵ HK rằng: theo kế hoạch đã thảo luận giữa 3 sư đoàn Việt Nam, Hoa Kỳ và Đại Hàn, Sư đoàn 22 BB sẽ vào vùng hành quân ngày mai, không nên thay đổi kế hoạch quá sớm. Bắt tay tạm biệt Tướng Norton, Tướng Hiếu trở về văn phòng và gọi máy chỉ thị cho Trung tá Bùi Trạch Dần, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 41 BB, chỉ sử dụng 2 tiểu đoàn Bộ binh cùng bộ chỉ huy Trung đoàn vào vùng hành quân thật sớm, và khi gần đến mục tiêu vào lúc 3 giờ chiều như dự tính thì phải đóng quân, cho binh sĩ dùng cơm và đào công sự tác chiến thật vững chắc.

* Tướng Hiếu và trận dạ chiến ở Tây Phù Mỹ

Theo báo cáo của Phòng 2 Sư đoàn 22 BB, khu vực hành quân của Trung đoàn 41 BB là vùng xôi đậu nên có rất nhiều cơ sở nằm vùng của VC, biết chắc thế nào các cơ sở này cũng báo cáo cho CQ rõ về quân số tham chiến của Trung đoàn 41 BB, do đó Tướng Hiếu đã vạch kế hoạch là cho sư đoàn 3 Sao Vàng thấy lực lượng hành quân của VNCH để đối phương điều quân ra đánh, khi giao tranh diễn ra, Tướng Hiếu sẽ cho phản công bằng lực lượng Thiết vận xa và bộ chiến. Một tiểu đoàn Bộ binh trừ bị và 1 chi đoàn Thiết vận xa đã được lệnh của Tướng Hiếu phải ém quân thật kỹ, xa vùng hành quân khoảng 10 km không cho địch quân thấy.

Đúng như ước tính của bộ Tư lệnh Sư đoàn 22 BB, vào 2 giờ sáng ngày N, Trung tá Bùi Trạch Dần báo cáo trên máy với Tướng Hiếu là trung đoàn CQ bắt đầu tấn công vào vị trí đóng quân của trung đoàn ông. Ngay khi đó, Tướng Hiếu ra lệnh cho chi đoàn Thiết vận xa và tiểu đoàn Bộ binh trừ bị tiến thật nhanh vào mục tiêu và bọc phía sau lưng địch quân, bao vây tiêu diệt, chận không cho địch quân rút lui.

Thiếu tướng Norton được tin lực lượng Sư đoàn 22 BB đụng độ với CQ, ông liền ra lệnh cho trực thăng của Sư đoàn 1 Không kỵ HK bay vào trận địa thả trái sáng xuống để giúp đơn vị VNCH thấy rõ vị trí của địch quân, cùng lúc đó, Pháo binh của 2 Sư đoàn VNCH và Hoa Kỳ hỏa tập liên tục để yểm trợ quân bạn. Hỏa châu từ trực thăng thả xuống quá nhiều nên ánh sáng tỏa ra thấy rõ hơn ban ngày. Trên trận địa, binh sĩ Trung đoàn 41 BB từ các hố cá nhân nổ súng bắn hạ CQ rất chính xác. 30 phút sau, tiểu đoàn Bộ binh trừ bị và chi đoàn Thiết vận xa có mặt tại mục tiêu, đồng loạt khai triển đội hình bao vây bọc hậu Cộng quân và tung các đợt tấn công mạnh từ phía sau. Đến 5 giờ sáng, Trung đoàn 41 BB và lực lượng trừ bị tiếp ứng đã hoàn toàn làm chủ trận địa, CQ phải rút lui để lại chiến trường trên 300 xác chết và một số lớn vũ khí.

Sáng ngày N, Tướng Hiếu đã đáp xuống mặt trận để thị sát trận địa, khoảng 15 phút sau, Thiếu tướng tư lệnh Sư đoàn 1 Không Kỵ HH cũng đáp xuống khu vực hành quân của trung đoàn 41 BB, sau đó ông đã tìm gặp Thiếu tá Trịnh Tiếu, ngợi khen vị sĩ quan này và Phòng 2 Sư đoàn 22 BB về khả năng phân tích và thu thập tin tức rất chính xác. Tướng Norton cũng bày tỏ sự thán phục của cá nhân ông về kế hoạch dụ địch rất hiệu quả của Sư đoàn 22 Bộ binh. Vị Tư lệnh Sư đoàn 1 Không kỵ HK đã nói với Tướng Hiếu rằng muốn thắng địch phải có tin tức chính xác và Sư đoàn 22 BB đã có một Phòng 2 rất giỏi.

Cũng cần ghi nhận rằng trước đó 3 tháng, một thành phần của Sư đoàn 22 BB đã đụng độ ác liệt với 2 tiểu đoàn CQ tại Phù Cát. Trận kịch chiến kéo dài 2 ngày đêm, cuối cùng lực lượng Sư đoàn 22BB đã đánh bật đối phương, loại ngoài vòng chiến hơn 200 CQ.

VƯƠNG HỒNG ANH
-----------

Trung Tướng Nguyễn Văn Hiếu

Nguyễn Hùng Kiệt

Trung Tướng Nguyễn Văn Hiếu (1929 – 1975) là một Tướng lĩnh tai ba của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông được nhiều người đánh giá là một vị tướng liêm khiết, từng được cử giữ chức Phụ tá Đặc trách trong Ủy ban Chống Tham nhũng thuộc Phủ Phó Tổng thống Trần Văn Hương. 2-1972- 10-1973. Ở vị trí công tác này, ông đã làm mất lòng nhiều đồng nghiệp mà họ vốn có nhiều tai tiếng tham nhũng. Nhiều người cũng cho rằng đây là lý do dẫn đến cái chết bí ẩn của ông trong văn phòng tại bản doanh Quân đoàn III tại Biên Hòa ngày 8 tháng 4 năm 1975, khi đang giữ chức Tư lệnh phó Hành quân Quân đoàn.

Tiểu sử theo Quân Sử Hà Nội:

“Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu sinh ngày 23 tháng 6 năm 1929 tại Thiên Tân, Trung Quốc. Đầu năm 1933, gia đình dọn về sinh sống trong phần tô giới Pháp của thành phố Thượng Hải. Năm 1949, trong khi học tại Đại học Aurore thì Đảng Cộng sản Trung Quốc lên nắm quyền, ông theo gia đình trở về Sài Gòn. Vào đầu năm 1950, gia đình ông chuyển ra Hà Nội. Đầu năm 1951, ông theo học binh nghiệp tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt.

Ông tốt nghiệp Thu Khoa Khóa 3 Trường Võ bị ngày 1 tháng 7 năm 1951. Sau khi tốt nghiệp, ông được bổ nhiệm vào làm sĩ quan của quân đội Quốc gia Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, cấp bậc Thiếu úy. Năm 1953, do sức khỏe kém, ông được phái vào Nam, phục vụ tại phòng 3 (Hành quân) Bộ Tham mưu Quân đội Quốc gia, dưới quyền Đại tá Trần Văn Đôn. Đây là nguồn gốc của mối quan hệ thân tình giữa ông và tướng Trần Văn Đôn sau này.

Sau khi chế độ Việt Nam Cộng hòa được thành lập, ông vẫn tiếp tục phục vụ thêm một thời gian ở Ban tham mưu Bộ Tổng tham mưu. Năm 1957, tướng Trần Văn Đôn rút ông về phục vụ tại Phòng 3 của Bộ tư lệnh Quân đoàn 1, cấp bậc Thiếu tá. Cuối năm 1962, ông được cử đi học khóa Chỉ huy và Tham mưu tại học viện US Army Command and General Staff College, Fort Leavenworth, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ và tốt nghiệp ngày 10 tháng 5 năm 1963.

Sau khi về nước, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tham mưu trưởng Sư đoàn 1 bộ binh. 10-1963 TT Diệm gắn lon Đại tá, là quyền tư lệnh Sư đoàn 1 trong thời gian ngắn, thay cho tướng Đỗ Cao Trí (kiêm nhiệm). Cuối năm 1963, ông được đưa về làm Tham mưu trưởng Quân đoàn 2, cũng dưới quyền tướng Đỗ Cao Trí. Ông cũng được bổ nhiệm hai lần giữ chức Tư lệnh sư đoàn 22; lần thứ nhất từ 7 tháng 9 đến 24 tháng 10 năm 1964 ; lần thứ nhì từ 23 tháng 6 năm 1966 đến 14 tháng 8 năm 1969. Ông được thăng cấp Chuẩn tướng (1 tháng 11 năm 1967), rồi Thiếu tướng (1 tháng 11 năm 1968), khi đang giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 22.

Từ 14 tháng 8 năm 1969 đến 9 tháng 6 năm 1971, ông lần lượt giữ các chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 rồi Tư lệnh phó Quân đoàn 1. Ngày 10 tháng 2 năm 1972, ông được Phó tổng thống Trần Văn Hương đề cử giữ chức Phụ tá Đặc trách trong Ủy ban Bài trừ Tham nhũng, cấp bậc tương đương Thứ trưởng.

Tháng 10 năm 1973, ông được bổ nhiệm về làm Tư lệnh phó Quân đoàn 3, đặc trách hành quân, dưới quyền Trung tướng Phạm Quốc Thuần, kế sau dưới quyền Trung tướng Dư Quốc Đống (23 tháng 10 năm 1974), và tiếp sau dưới quyền Trung tướng Nguyễn Văn Toàn (1 tháng 2 năm 1975). Tuy nhiên, đến ngày 8 tháng 4 năm 1975, ông bị phát hiện chết trong văn phòng riêng tại bản doanh Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 bởi một viên đạn bắn vào cằm. Theo công bố ban đầu của chính quyền thì nguyên nhân cái chết là do tự sát, sau đó đã được cải thành ngộ sát: bị cướp cò khi chùi súng. Ngày 10 tháng 4 năm 1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu công bố quyết định truy phong cho Nguyễn Văn Hiếu quân hàm Trung tướng “.

Theo bút ký của nhà văn, Đại Úy Nhảy Dù Phan Nhật Nam:

“Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu là một điển hình về tinh thần hy sinh khắc kỷ của Người Lính Cộng Hòa. Cái chết của Người dẫu là một kết liễu bi thảm nhưng đồng thời cũng rọi sáng thêm lòng trung liệt vô hạn thanh cao.

Đoạn đường binh nghiệp của Người Lính Nguyễn Văn Hiếu khởi đầu với những bước bất trắc không xuông xẻ, dẫu người Sinh Viên Sĩ Quan Khóa III Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt ấy hội đủ tất cả những khả năng tối ưu để hoàn tất chương trình khóa học với chỉ số điểm cao nhất. Anh là sinh viên sĩ quan có điểm văn hóa cao nhất, điểm quân sự cao nhất, cũng cao nhất về điểm hạnh kiểm (côte d’amour) do tánh tình khoan hòa, khiêm tốn, luôn giúp đỡ đồng bạn, mực thước, và trọng nguyên tắc – Mẫu người bẩm sinh thích hợp với đời sống quân ngũ – Nói rõ hơn, những người tuổi trẻ được sắp sẵn tinh thần, trí tuệ, cá tính, ngoại hình, thể chất để trở nên hàng Tướng Soái thống lĩnh ba quân nơi trận địa. Những De Gaulle, De Lattre, Bigeard của Quân Lực Pháp; Montgomery của Kỵ Binh Hoàng Gia Anh; Rommel, Con Sói Sa Mạc của Quân Đoàn Bắc Phi Quốc Xã Đức; hay Người Lính Lớn của Quân Lực Mỹ, McArthur. Thiếu Úy Nguyễn Văn Hiếu tốt nghiệp với thứ hạng Á Khoa, nhường vinh dự Thủ Khoa cho Thiếu Úy Bùi Dzinh, bởi lẽ Quốc Trưởng Bảo Đại có chỉ dụ, muốn thấy một người Miền Trung giữ vị trí danh dự kia. Thiếu Úy Nguyễn Văn Hiếu không chút tỵ hiềm – Ông vững tin vào bản lãnh, năng lực riêng- Sức tự tin cao độ của Người Chiến Đấu với Tinh Thần Kẻ Sĩ Đông Phương. Cuộc đời ngoại hạng tiếp theo chứng nhận tính chính xác về những phẩm chất cao quý của bước khởi đầu binh nghiep” (Hào Kiệt Nước Nam Không Đời Nào Thiếu Tướng Quân Nguyễn Văn Hiếu ” Phan Nhật Nam)

Các trận đánh và hành quân tiêu biểu Quyết Thắng 202 (Đỗ Xá), 1964

Đại tá Hiếu, Tham mưu trưởng Quân đoàn II, được ủy thác điều nghiên và thi hành Hành quân Quyết Thắng 202 đánh thẳng vào mật khu bất khả xâm phạm Đỗ Xá của Việt Cộng, nằm sâu trong dãy Trường Sơn tại giáp giới ba tỉnh Kontum, Quảng Ngãi và Quảng Tín, từ 27 tháng 4 đến 27 tháng 5 năm 1964.

Tham dự cuộc hành quân này gồm có các đơn vị của Trung đoàn 50 thuộc Sư đoàn 25 dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Phan Trọng Trinh, bốn tiểu đoàn Biệt Động Quân dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Sơn Thương và một tiểu đoàn Dù dưới quyền chỉ huy của Đại úy Ngô Quang Trưởng.

Các toán quân được trực thăng vận tới hai địa điểm đổ bộ do ba phi đội trực thăng yểm trợ: phi đội HMM-364 của Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, phi đội 117 và phi đội 119 thuộc Phi đoàn 52 của Không lực Lục quân Hoa Kỳ.

Diễn tiến và kết quả trận đánh theo nguồn tin của Quân lực Việt Nam Cộng hoà thì phe Cộng sản tấn công mãnh liệt các phi vụ đổ bộ trong hai ngày đầu, sau đó đào thoát để tránh né đụng độ. Cuộc Hành quân Đỗ Xá đã phá hủy hệ thống truyền tin của bộ chỉ huy Việt Cộng gồm năm trạm phát thanh, một trạm dùng để liên lạc với Bắc Việt và bốn trạm dùng để liên lạc với các đơn vị Việt Cộng hoạt động tại các tỉnh lỵ; phe Việt Cộng bị tổn thất với 62 chết, 17 bị bắt, mất 2 súng phòng không 52 ly, 1 súng liên thanh 30 ly, 69 súng cá nhân và một số lượng lớn mìn và lựu đạn, các dụng cụ công binh, chất nổ, thuốc men và tài liệu; phá hủy 185 căn nhà, 17 tấn lương thực và 292 mẫu mùa màng.

Pleime, 1965

Theo nguồn tin của quân báo của Việt Nam Cộng hòa thì sau khi thất bại không đánh chiếm được trại Lực lượng Đặc biệt Đức Cơ vào tháng 8 năm 1965, vào tháng 10 cùng năm tướng Võ Nguyên Giáp phát động Chiến dịch Đông Xuân nhằm cắt Nam Việt Nam làm đôi, từ Pleiku thuộc vùng cao nguyên xuống đến Qui Nhơn thuộc vùng duyên hải. Kế hoạch của tướng mặt trận của Việt Cộng, Chu Huy Mân, như sau :

Trung đoàn 33 Bắc Việt vây hãm tiền đồn Pleime để nhử Quân đoàn 2 đem viện binh từ Pleiku kéo xuống;

Trung đoàn 32 Bắc Việt nằm phục kích đón chờ quân viện binh (một con mồi ngon khi không được yểm trợ bởi hỏa lực của các căn cứ pháo binh đặt gần bên);

Sau khi triệt hạ viện binh, Trung đoàn 32 Bắc Việt trở đầu tiếp sức Trung đoàn 33 Bắc Việt thanh toán trại Pleime;

Đồng thời một khi tuyến phòng thủ của tỉnh Pleiku bị suy yếu vì phải đưa quân tiếp cứu trại Pleime, Trung đoàn 66 Bắc Việt sẽ khởi sự tấn kích cầm chừng Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, chờ cho Trung đoàn 32 và 33 Bắc Việt thanh toán xong trại Pleime lên tiếp sức tấn chiếm tỉnh Pleiku.

Để hóa giải kế hoạch của tướng Chu Huy Mân, ông bàn định kế hoạch với Sư đoàn 1 Kỵ binh Mỹ như sau:

Quân đoàn II làm bộ mắc mưu địch phái một đơn vị Biệt kích hỗn hợp Mỹ và Việt tới trại Pleime trước để tiếp sức với quân đồn trú bảo vệ trại;

Gửi một Chiến đoàn từ Pleiku xuống tiếp cứu trại Pleime;

Sư đoàn 1 Kỵ binh Mỹ sẽ gửi một Lữ đoàn thay thế số quân đi tiếp ứng bảo vệ tỉnh Pleiku;

Đồng thời Sư đoàn 1 Không kỵ sẽ trực thăng vận nhiều pháo đội rải rác tại các vị trí gần địa điểm phục kích dùng thế “tiền pháo hậu xe” yểm trợ cho Chiến đoàn tiếp cứu khi hữu sự.

Kết quả của trận đánh theo nguồn tin của Quân lực Việt Nam Cộng hòa là: Kế hoạch thắng lợi do đó Trung đoàn 66 Bắc Việt bị vô hiệu hóa nằm bất động ở rặng núi Chu Prong, Trung đoàn 33 Bắc Việt bị đánh tan tành ở điểm phục kích, và Trung đoàn 32 Bắc Việt phải bỏ vây hãm căn cứ Pleime và tháo lui vào rừng rậm.

Theo báo cáo của Mặt trận Tây nguyên của quân CS thì mục tiêu của “Chiến dịch Plây Me” của quân CS là dùng chiến thuật đánh diện (đồn) đả điểm (phục kích quân tiếp cứu) để dụ quân ngụy đưa quân tiếp cứu đồn Pleime với mục đích triệt hạ đoàn quân tiếp cứu. Việc này để dụ lính Mỹ thuộc Sư đoàn 1 Kỵ binh Hoa Kỳ nhảy vào ổ phục kích giăng sẵn tại thung lũng Ia drang trong rặng núi Chu Prong:

“Về kế hoạch, dự kiến chiến dịch chia làm 3 đợt: Đợt 1, vây đồn Plây Me, diệt quân ngụy đi ứng viện; đợt 2, tiếp tục vây đồn Plây Me buộc quân Mỹ vào tham chiến; đợt 3, tập trung lực lượng nhằm vào một cánh quân Mỹ để tiêu diệt và kết thúc chiến dịch.”

Thần Phong II

Về cuộc Hành quân Thần Phong II, theo đánh giá của Bộ Tham mưu Quân đoàn II Việt Nam Cộng hòa, thì tình hình quân sự như sau:

Trong năm 1965, phe Việt Cộng tấn công ồ ạt khắp vùng Cao Nguyên thuộc Quân khu II. Vào đầu tháng 7 năm 1965, ba trung đoàn Bắc Việt (trong số đó chắc chắn có trung đoàn 32) đã hoàn toàn cô lập hóa vùng Cao Nguyên. Các đơn vị bạn không còn xử dụng được các Quốc lộ 1, 11, 14, 19 và 21, và mọi tiếp tế cho vùng Cao Nguyên chỉ có thể thực hiện qua đường hàng không.

Vì vậy ngày 8 tháng 7 năm 1965, tướng Vĩnh Lộc ủy thác cho ông điều nghiên kế hoạch khai thông Quốc lộ 19.

Trái ngược với thông lệ khi hành quân khai lộ là tập trung một lực lượng quân lính to lớn để tuần tự dẹp các ổ phục kích và nút chận của địch quân dọc trên quốc lộ, ông đã nghĩ ra kế cấm cản địch quân thiết lập các ổ phục kích và nút chận bằng cách dùng chiến thuật dương đông kích tây. Từ ngày N-6 đến N+2, ông cho Sư đoàn 22 và Thiết vận 3 đánh thốc từ Qui Nhơn xuống Tuy Hòa trên Quốc lộ 1; cho Chiến đoàn 2 Dù cùng Địa phương quân và Nhóm Dân sự Chiến đấu tấn công tái chiếm quận Lệ Thanh; cho Chiến đoàn Alpha thủy quân lục chiến và Trung đoàn 42 đánh từ Pleiku lên Bắc Dak Sut trên Quốc lộ 14; và cho Tiểu đoàn Công binh Chiến đấu đánh từ Phú Bổn đến Tuy Hòa để sửa chữa Liên tỉnh lộ 7.

Sau khi gây hoang mang cho phe Việt Cộng với đồng loạt các cuộc hành quân qui mô đó, ông “dồn ép Việt Cộng từ ba hướng với các cuộc tiến quân phát xuất từ Pleiku và Qui Nhơn và một bủa vây thẳng góc từ bắc An Khê tung xuống. Những động tác này được thi hành bởi một chiến đoàn của tiểu khu Pleiku phát xuất từ Pleiku, hai chiến đoàn của Sư đoàn 22 Bộ binh phát xuất từ Qui Nhơn, và một chiến đoàn của hai tiểu đoàn Dù được trực thăng vận vào mạn bắc An Khê và tấn công xuống hướng nam với Chiến đoàn Alpha của Lữ đoàn TQLC thực hiện việc kết nối,” đồng thời “đặt để một lực lượng trừ bị lớn mạnh gồm ba tiểu đoàn (một biệt động quân, một thủy quân lục chiến và một dù) và hai đơn vị thiết giáp tại các địa điểm chiến thuật:

Pleiku, Suối Đồi, An Khê và Đèo Mang.” Nhờ vậy, các đoàn xe vận tải có hộ tống có thể di chuyển ngày đêm trên Quốc lộ 19 trong 5 ngày từ N+3 đến N+7, “gầy dựng được một tồn trữ tiên khởi tiếp tế lên tới 5.365 tấn tại Pleiku”. Tiếp đó các đơn vị hành quân rút về các căn cứ trong hai ngày N+8 và N+9.

Kết quả của Hành quân Thần Phong là “các đoàn xe được hộ tống tạo một sinh khí mới trên vùng Cao Nguyên. Vật giá thực phẩm và hành hóa thuyên giảm từ 25 đến 30 phần trăm, đồng thời dân chúng hồi phục cảm nghiệm an ninh, tin tưởng và hy vọng. Các học sinh tại Pleiku tình nguyện giúp quân lính gỡ hàng xuống, và dân chúng trước đây di tản nay trở về làng xã.”

Liên Kết 66

Nhà văn và cựu Đại Úy Nhảy Dù Phan Nhật Nam viết: “Một lính Dù tham dự Hành quân Liên Kết 66, kể lại trận đánh như sau:

“Trung đoàn 42 thuộc Sư đoàn 22 Bộ binh, với sự trợ lực của đơn vị tăng phái Chiến đoàn 3 Nhảy Dù làm thành phần chận địch đóng trên núi, hợp cùng chi đoàn thiết vận xa M113 lùa địch từ Quốc lộ 1 vào núi tại Đèo Phù Cũ trong tỉnh Bình Định. Các chiến sĩ bộ binh tùng thiết với thiết vận xa M113 theo đội hình hàng ngang, ào ạt tiến tới sau một đợt tác xạ mạnh mẽ. Chiến đoàn trưởng Nhảy Dù, Trung tá Nguyễn Khoa Nam, đứng trên sườn núi chong ống nhòm quan sát trận địa, đã nói: Đại tá Hiếu điều quân như một ‘ông thiết giáp’ nhà nghề, và lính Sư đoàn 22 đánh đẹp đâu thua lính mình.”

Đại Bàng 800

Đầu tháng 2 năm 1967, Đại tá Hiếu, Tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh, phát động Hành quân Đại Bàng 800[9]. Trước đó ròng rã ba ngày, các đơn vị của Sư đoàn 1 Kỵ binh Hoa Kỳ, ráo riết truy lùng địch quân, nhưng thất bại không phát hiện được một mống du kích quân nào. Thay vì đi lùng kiếm địch, ông xoay qua kế dụ địch bằng cách phái một trung đoàn trừ vào vùng Phù Mỹ đóng quân qua đêm, biết chắc là các điệp viên của Việt Cộng trà trộn trong dân chúng sẽ báo cáo quân số yếu kém của đơn vị bạn. Trong khi đó, ông ếm sẵn một tiểu đoàn bộ binh cơ giới và một thiết đoàn kỵ binh cách địa điểm đóng quân 10 cây số, ngoài mọi tầm quan sát của địch. Phe Việt Cộng đã nghĩ là có một con mồi ngon, tung ra một trung đoàn thuộc Sư đoàn 3 Sao Vàng BV, định xơi tái trung đoàn trừ vào lúc 2 giờ sáng. Được báo động, ông ra lệnh cho đơn vị trừ bị phóng tới cắt đường tháo lui của địch và đồng thời hợp lực với quân trú phòng tạo thế gọng kìm làm thịt địch quân. Kết quả là sau ba tiếng đồng hồ giao tranh, phe Việt Cộng bỏ lại hơn 300 xác chết và nhiều súng ống ngổn ngang trên bãi chiến trường.

Toàn Thắng 46 :5-1970

Ban cố vấn Mỹ của Sư đoàn 5 Bộ binh VNCH phúc trình Hành quân Toàn Thắng 46 như sau:
Bối cảnh: Từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1970, Sư đoàn 5 tham dự vào cuộc xua quân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa qua lãnh thổ Campuchia, với Hành quân Toàn Thắng 46 vào vùng Lưỡi Câu ở phía Bắc Lộc Ninh.

Hậu cứ của quân Việt Cộng trong vùng này gồm có bản doanh Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 Bắc Việt (SĐ5BV), trung tâm huấn luyện và bệnh xá của Nhóm Dịch vụ Hậu cần 70 và 80. Hai Trung đoàn 174 và 275 thuộc SĐ5BV hoạt động trong vùng này.

Mục tiêu: Tấn công và triệt phá Nhóm Dịch vụ Hậu cần 70 và 80, trung tâm huấn luyện và bệnh xá. Đồng thời truy lùng và triệt phá các kho tàng lương thực, đạn dược, vũ khí và dược phẩm trong vùng hành quân.

Thiết kế: Trước tiên hai Tư lệnh Sư đoàn 5 và Tư lệnh Sư đoàn 1 Kỵ binh Mỹ, tướng Hiếu và tướng Casey, cùng hai ban tham mưu Việt-Mỹ điều nghiên sơ khởi phối trí hành quân. Sau đó Tư lệnh phó Sư đoàn 5, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 11 Thiết kỵ Mỹ điều nghiên chi tiết phối hợp hành quân. Hai trung đoàn Việt Mỹ được quyền xử dụng căn cứ Yểm trợ Hỏa lực GONDER để phối hợp yểm trợ không lực và phi pháo.

đoạn. Giai đoạn I là giai đoạn tấn công; Giai đoạn II, III và IV là giai đoạn lùng và diệt địch; Giai đoạn V là giai đoạn triệt thoái.

Toàn Thắng 8/B/5 : 10-1970

Ban cố vấn Mỹ của Sư đoàn 5 Bộ binh VNCH phúc trình Hành quân Toàn Thắng 8/B/5 như sau:

Bối cảnh: Ngày 14 tháng 10 năm 1970, Bộ Tư lệnh Quân đoàn III chỉ thị cho Sư đoàn 5 hành quân cường thám sang lãnh thổ Campuchia vào mật khu của quân Việt Cộng đóng quanh vùng Snoul. Cuộc hành quân Toàn Thắng 8/B/9 kéo dài từ ngày 23 tháng 10 đến ngày 10 tháng 11 năm 1970.

Lực lượng phe CS:
Trung đoàn 174, Trung đoàn 275 và Tiểu đoàn Z27 Viễn thám thuộc SĐ5BV;
Nhóm Dịch vụ Hậu cần 86, C11 (Y tế);
Du kích quân C1/K2 tại Tây-Bắc Snoul;
Du kích quân tại Chợ thị chấn Snoul;
Du kích quân tại K’bai Trach, Tây-Nam Snoul.

Mục tiêu: Phá hủy lực lượng địch, căn cứ địch, và thâu thập tin tức địch quanh vùng Snoul.

Thiết kế:

Tư lệnh Sư đoàn 5, tướng Hiếu, cùng ban tham mưu đảm nhiệm thiết kế hành quân.

Lực lượng hành quân gồm 3 chiến đoàn: CĐ1 (Thiết đoàn 1 chủ lực), CĐ9 (Trung đoàn 9 chủ lực) và CĐ333 tăng phái (Chi đoàn 18 Thiết kỵ và bốn Tiểu đoàn Biệt Động Quân). CĐ333 có trách nhiệm bảo vệ và duy trì an ninh trục lộ tiếp tế.

Kế hoạch hành quân được Quân đoàn III phê chuẩn ngày 21 tháng 10 năm 1970. Buổi họp phối trí chung kết diễn ra ngày 22 tháng 10 năm 1970 tại Lai Khê, giữa tướng Tư lệnh Sư đoàn 5 với các cấp chỉ huy liên hệ.

Thực hiện: Hành quân Toàn Thắng 8/B/5 gồm 3 giai đoạn. Giai đoạn I: tiến quân giao tranh với địch; Giai đoạn II: giao tranh với địch tại vùng Bắc thị trấn Snoul; Giai đoạn III là giai đoạn triệt thoái.

Toàn Thắng TT02 (Snoul 1971)

Cuối năm 1970, ông dụ địch bằng cách đặt một trung đoàn ở Snoul sâu trong lãnh thổ Campuchia, phía bắc Lộc Ninh trên Quốc lộ 13. Phe Việt Cộng có 3 sư đoàn (5, 7 và 9) hoạt động quanh vùng đó. Quân đoàn III sẵn sàng dốc toàn bộ 3 sư đoàn 5, 18 và 25 nếu phe Việt Cộng dám tung quân vào trận chiến một, hai hay cả ba sư đoàn. Rủi ro thay, tướng Trí bị tử nạn trực thăng cuối tháng 2 năm 1971, và tướng Minh, người thay thế tướng Trí, không chịu thi hành đến cùng kế hoạch dụ địch vào phút chót, khi Chiến đoàn 8 thành công dụ địch bu quanh Snoul với hai Sư đoàn 5 và 7 Bắc Việt. Quân lính phòng thủ của Chiến đoàn 8, khi không thấy viện binh tới mà cũng không có B-52 đến yểm trợ, sắp phải toan phất cờ trắng đầu hàng. Tuy nhiên, tướng Hiếu đã trở tay kịp đế rút quân an toàn về tới Lộc Ninh. Cuộc lui binh được thực hiện cách trật tự qua ba giai đoạn[12]:

Ngày 29 tháng 5 năm 1971, Tiểu đoàn 1/8 phá vỡ vòng vây rút từ tiền đồn nằm ở phía bắc Snoul về chợ Snoul, nơi đóng quân của Bộ Chỉ huy Chiến đoàn 8;

Ngày 30 tháng 5 năm 1971, Chiến đoàn 8 dùng Tiểu đoàn 1/8 làm mũi giáo chọc thủng vòng vây địch, kéo theo các Tiểu đoàn 2/8, Bộ Chỉ huy Chiến đoàn, Thiết đoàn 1 với Tiểu đoàn 2/7 bọc hậu, rút từ Snoul tới địa điểm đóng quân của Tiểu đoàn 3/8, cách Snoul 3 cây số trên Quốc lộ 13;

Ngày 31 tháng 5 năm 1971, Tiểu đoàn 3/8 thay Tiểu đoàn 1/8 làm mũi giáo chọc thủng vòng vây, kéo theo sau Tiểu đoàn 3/9, Tiểu đoàn 2/7, Bộ Chỉ huy Chiến đoàn, Thiết đoàn 1 với Tiểu đoàn 1/8 bọc hậu, rút từ địa điểm 3 cây số cách biên giới Việt-Miên này về tới Lộc Ninh.

Theo quan điểm của Quân đội Nhân dân Việt Nam ghi trong Trận đánh ba mươi năm – ký sự lịch sử 2[13] về chiến dịch này như sau:

“Ngày 25 tháng 5 năm 1971, bộ đội chủ lực ta do sư đoàn 5 và sư đoàn 7 phối hợp với quân và dân Cam-pu-chia tổ chức bao vây và đánh mạnh vào quân địch ở Xnun. Trưa ngày 30 tháng 5, quân địch ở đây tháo chạy bất chấp lệnh của Sài Gòn là chúng phải cố giữ Xnun. Buổi chiều cùng ngày, trên con đường rút chạy, chúng bị bộ đội ta phục kích và loại khỏi vòng chiến đấu chiến đoàn bộ binh địch cùng trung đoàn thiết giáp đặc nhiệm và tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp, thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch.”

Svay Riêng, 1974

Năm 1974, trong tư cách Tư lệnh phó Hành quân Quân đoàn III, phụ tá cho tướng Phạm Quốc Thuần, ông đã áp dụng chiến thuật Blitzkrieg (chiến trận thần tốc) để giải tỏa áp lực của Sư đoàn 5 Bắc Việt từ tỉnh lỵ Svay Riêng trong vùng Mỏ Vẹt thuộc lãnh thổ Campuchia[14] nhằm vào căn cứ Đức Huệ. Trước hết, ông dùng 20 tiểu đoàn di động bao quanh vùng Mỏ Vẹt. Tiếp đến, ngày 27 tháng 4 năm 1974, ông tung Trung đoàn 49 Bộ binh và Liên đoàn 7 Biệt Động Quân qua vùng đồng lầy quanh Đức Huệ tiến tới biên giới Campuchia, và cho không quân bắn phá dội bom các vị trí đóng quân của SĐ5BV.. Đồng thời, ông cậy nhờ hai tiểu đoàn ĐPQ của Quân đoàn IV từ Mộc Hóa tấn lên phía Bắc, thiết lập những nút chận mạn Đông Nam của vùng tập trung quân và khu tiếp vậncủa SĐ5BV.

Vào ngày 28 tháng 4, ông tung 11 tiểu đoàn vào trận địa để thực hiện những cuộc hành quân tiên khởi chuẩn bị cho cuộc tấn công chính.

Vào sáng ngày 29 tháng 4, 3 chi đoàn thiết giáp của Lực lượng Xung kích Quân đoàn III chọc thủng qua biên giới Campuchia từ phía Tây Gò Dầu Hạ, nhắm hướng bản doanh bộ tư lệnh của SĐ5BV mà xông tới.

Trong khi đó, Chiến đoàn Bộ binh và Thiết giáp của Quân đoàn IV được điều động xuất phát từ Mộc Hóa tiến qua biên giới đi vào vùng Cẳng Chân Voi, đe dọa đường rút lui của Trung đoàn 275 Bắc Việt. Trong khi các chi đoàn thiết giáp tiếp tục xông tới, tiến sâu đến 16 cây số vào lãnh thổ Campuchia trước khi chuyển bánh lái về phía Nam hướng về tỉnh lỵ Hậu Nghĩa, và trong khi các trực thăng đổ quân bất ngờ xuống các vị trí địch quân, các đơn vị khác của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa phát động những cuộc hành quân đánh chớp nhoáng vào vùng giữa Đức Huệ và Gò Dầu Hạ.

Ngày 10 tháng 5, khi đơn vị cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa trở về căn cứ, các hệ thống truyền tin và tiếp vận của phe Việt Cộng trong vùng bị phá vỡ trầm trọng. Phe Việt Cộng thiệt hại với hơn 1.200 chết, 65 bị bắt và hàng trăm khí giới bị tịch thu. Mặt khác, nhờ vào các yếu tố vận tốc, bí mật và phối trí của một hành quân đa diện, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa chỉ bị chết có dưới 100 quân lính.

Phụ tá đặc trách ủy ban chống tham nhũng : 2-1972-10-1973

Theo sự đề nghị của Phó tổng thống Trần Văn Hương, tướng Hiếu đã can đảm nhận chức Phụ tá Đặc trách của Ủy ban Chống tham nhũng của Phủ Phó tổng thống, với quyền hạn Thứ trưởng, từ ngày 10 tháng 2 năm 1972. Ông nhận lãnh trách nhiệm này vì ý thức được sở dĩ Quân đội Trung hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch thua Hồng quân Trung Quốc của Mao Trạch Đông vì nạn tham nhũng hoành hành trong giới lãnh đạo quân đội – tỉ như buôn súng cho địch quân; và Quân lực Việt Nam Cộng Hòa cũng sẽ chịu chung số phận đó nếu không trừ khử được nạn này, tỉ như bán xăng qua bên Campuchia cho phe địch. Ông giữ chức vụ này đến ngày 29 tháng 10 năm 1973. Đây là giai đoạn mà nạn tham những hoành hành trong giới lãnh đạo quân đội Việt Nam Cộng hòa với những tai tiếng về buôn lậu, ăn cắp quân nhu và tiền viện trợ quân sự .

Đánh giá nạn tham nhũng trong quân đội sẽ làm tổn hại uy tín quân đội, làm giảm sức chiến đấu của binh sĩ, ông được giao quyền hành tương đối tự do để có thể hành động làm trong sạch hóa đội ngũ lãnh đạo quân sự. Trước tình trạng tham nhũng lan tràn khắp mọi lãnh vực: quân đội, cảnh sát, tư pháp, hành chánh, công ty điện lực, Air Vietnam, thương cảng, phi cảng, hối đoái, v.v. ông đã tiến hành hàng loạt các cuộc điều tra về tham nhũng, mà đặc biệt là cuộc điều tra về vụ tham nhũng trong Quỹ tiết kiệm Quân đội. Đây là vụ án tham nhũng lớn nhất được ông tiến hành, thực hiện trong 5 tháng và được ông công bố đầy đủ chi tiết và bằng chứng buộc tội trên màn truyền hình toàn quốc ngày 14 tháng 7 năm 1972[19]. Chính kết quả của cuộc điều tra này đã buộc hàng loạt sĩ quan, trong đó có 2 tướng lĩnh là Tổng trưởng Quốc phòng, Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ, Trung tướng Lê Văn Kim và 7 đại tá bị cách chức. Quỹ tiết kiệm Quân đội bị buộc phải giải tán.

Tuy nhiên, chính do những cuộc điều tra tham nhũng của ông đã gây đụng chạm đến quyền lợi của giới lãnh đạo quân sự biến chất, thậm chí ở cấp cao nhất. Sau vụ án Quỹ tiết kiệm Quân đội, Tổng thống Thiệu đã thu hẹp quyền hạn điều tra tham nhũng của tướng Hiếu ở cấp quận trưởng, và cần có sự chấp thuận tiên quyết trước khi khởi công điều tra ở cấp tỉnh trưởng. Điều này khiến ông nản lòng và ông đã xin trở về phục vụ trong quân đội và tuyên bố: “Nếu mình không chịu tự sửa sai thì Cộng sản sẽ buộc mình sửa lỗi lầm”.

Những nghi vấn về cái chết

Chiều ngày 8 tháng 4 năm 1975 có tin loan báo ra từ Bộ Tư lệnh Quân đoàn III ở Biên Hòa là ông đã bị chết ngay tại trong văn phòng làm việc. Giới quân sự nghi ngay tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh QĐ III, vì ông Toàn mang tiếng tham nhũng hạng gộc, trong khi đó ông Hiếu rất thanh liêm và hơn nữa, đã từng giữ chức Đặc trách chống tham nhũng thuộc phủ Phó Tổng thống Trần Văn Hương.

Ngày hôm sau, sau khi tham dự buổi họp báo của phát ngôn viên quân sự, phóng viên thông tấn xã UPI loan tin như sau :

SAIGON (UPI) – Tư Lệnh Phó QLVNCH bảo vệ vùng Sài-Gòn được khám phá bị bắn tối thứ ba sau một cuộc cãi vả về chiến thuật với cấp trên của mình. Các nguồn tin quân sự nói là có vẻ ông ta tự vận. Các nguồn tin đó nói Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu chết với một vết thương do một viên đạn gây nên ở miệng tại văn phòng ở Bộ Tư lệnh Quân đoàn III nằm ven biên phi trường quân sự Biên Hòa, cách Sài-Gòn 14 miles. Không biết sự kiện tướng Hiếu chết có liên quan gì với vụ oanh tạc Dinh Độc Lập của ông Nguyễn Văn Thiệu xảy ra sáng thứ ba cùng ngày không? (Sự thật Trung Úy Không Quân Nguyễn Thành Trung (CS nằm vùng) ném bom (Ông ta là Đại tá Cộng Sản, hiện tại là Phó Tổng Giám Đốc Hàng Không Việt Nam).

Nguồn tin này nêu lên ba nghi vấn:

Một là phải chăng tướng Toàn bắn ông vì bất đồng về chiến thuật;

Hai là vết đạn vào “cằm” sao nói trại qua vào “miệng” để “có vẻ ông ta tự vận”;

Ba là phải chăng Tổng thống Thiệu, sau khi Dinh Độc Lập bị oanh tạc buổi sáng, nghi ông âm mưu đảo chánh lật đổ Tổng thống, nên sai tướng Toàn giết ông.

Mấy ngày sau đó, Bộ Tư lệnh QĐ III tung ra một tin đồn khác, viện cớ ông là một tay thiện xạ súng lục thích tự tay chùi súng nên sơ ý lỡ tay bị cướp cò. Nghi vấn được nêu lên là lỡ tay bị cướp cò làm sao có thể gây thương tích ở cằm, nhất là cằm bên trái, trong khi ông lại thuận tay phải.

Theo đường đạn, phát ngôn nhân quân sự, khi bị nhà báo hỏi bắn vào đâu, đã trả lời vào “miệng” cho hợp lý hơn – mà cũng không thể ngộ sát như vừa nêu trên, cộng thêm những luận điệu úp mở và chối quanh của giới chức thẩm quyền khiến dân chúng càng đặt thêm nhiều nghi vấn và đi đến kết luận . cái chết của ông có thể là kết quả của một vụ âm mưu do cấp trên trực tiếp của tướng Toàn ra lệnh và tướng Toàn cùng đàn em thân cận đã thi hành lệnh ngay tại bản doanh QĐ III.

“Trong thập niên bảy mươi, hình ảnh tích cực của những sĩ quan như Tướng Hiếu là một khiên mộc đỡ cho chính phủ ông Thiệu, nhưng Tướng Hiếu cũng là một mũi gai nhọn thọc vào bả sườn họ. Một trong những trọng trách của Tướng Hiếu là canh chừng các sĩ quan cao cấp dính líu vào nạn chợ đen và thâm thủng quỹ tiết kiệm quân đội. Mỗi khi tố cáo hành vi trộm cắp hay ngang trái của một cộng sự viên của ông Thiệu là Tướng Hiếu khiến cho tính mạng lâm nguy. Bác Hướng (Thân phụ Tướng Hiếu) đã nói với tôi là sáng hôm đó 8-4-1975 anh Hiếu đã từ chối che đậy cho hành vi tầm bậy của một trong những đàn em của ông Thiệu. Anh Hiếu cũng công khai chống đối chính sách rút quân ra khỏi những vùng chiến thuật của ông Thiệu, “nhượng bỏ đất đai cho Cộng Sản”.

“Bác đã thấy xác anh Hiếu,” bố anh Hiếu đã nói vậy chiều tối hôm đó. “Không những bác xác tín là anh Hiếu đã không tự sát, mà bác còn chắc chắn là chúng giết anh Hiếu ở đâu rồi đem xác trở về đó. Con dâu bác “phu nhân Tướng Hieu nói, “chẳng thấy máu đâu cả – chỉ thấy một chấm vệt đỏ ở cằm thôi.”

“Con sẽ không ngừng chiến đấu,” Tướng Hiếu nói vậy với bố hai ngày trước khi chết. “Và con sẽ không để ông Thiệu bịt miệng. Con sẽ chết trong tư thế chiến đấu, ngoài mặt trận hay ngay tại văn phòng. Con sẽ không bỏ cuộc đến khi đổ giọt máu cuối cùng. Con thề danh dự như vậy.”

Nguyễn Thị Thu-Lâm

(trích dịch từ cuốn “Fallen Leaves, Memoirs of a Vietnamese Woman from 1940 to 1975″, nhà xuất bản Yale Southeast Asia Studies).

Nguyễn Hùng Kiệt
Tham khảo các tài liệu: Việt, Mỹ, Hà Nội:

- Các Tư lệnh Sư đoàn và Quân đoàn QLVNCH (Airgram from American Embassy Saigon to Department of State, February 6, 1973, Subject: Command Histories and Historical Sketches of RVANF Divisions)
- Đời Binh Nghiệp Tướng Hiếu
- Chiến Dịch Đỗ Xá
- Sự Thật về Chiến Dịch Pleime Nguyễn Văn Tín
- Chiến dịch Plây Me (Cục Tác chiến Bộ Quốc Phòng CHXHCNVN) do tướng Nguyễn Đình Ước, QĐNDVN, trao cho Vietnam Center, trong khóa hội thảo về Chiến Dịch Pleiku/Ia Drang do Vietnam Center tổ chức tại Hoa Thịnh Đốn ngày 12/11/2005 Hành Quân Khai Lộ bản dịch bài Road-Clearing Operation – Military Review, April 1966
- Hào Kiệt Nước Nam Không Đời Nào Thiếu Phan Nhật Nam .
- “Fallen Leaves, Memoirs of a Vietnamese Woman from 1940 to 1975″, nhà xuất bản Yale Southeast Asia Studies).

Tham nhũng tại Nam Việt Nam điện tín Đại sứ Mỹ gửi về Bộ Ngoại Giao ngày 19/7/1972

Dịch Tham Nhũng

Thiệu Sa Thải Bộ Trưởng Quốc Phòng New York Times 6 tháng 8 năm 1972

Cái Chết Đầy Bí Ẩn Của Tướng Hiếu “Đ. Mẹ, thằng Toàn nó tham nhũng. Nó vừa bắn chết ông Hiếu rồi. Mình phải lên ngay Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn bắt thằng Toàn mới được!” (trung tá chỉ huy trưởng quân cảnh QĐIII)

Lê Khắc Lý “Tướng Hiếu mới là tướng sạch đích thực, tôi nói như vậy với giới báo chí, có nhiều tướng tá chỉ có vẻ sạch bề ngoài mà thôi. Những điều tôi minh chứng cho họ, khiến khi trở về Sài Gòn, họ mới đưa thêm tên Tướng Hiếu ra như là tướng sạch thứ năm sau danh sách bốn tướng sạch (Nhất Thắng, nhì Thanh, tam Chinh, tứ Trưởng)”

Tin Tướng Tự Sát ở Sài-Gòn Đáng Nghi Ngờ Thông tấn xã UPI

Bản Tường Trình Kết Thúc Về Cái Chết Tướng Hiếu.

Đọc thêm: Thiên tài quân sự Việt-Nam - Thiếu-Tướng Nguyễn-Văn- Hiếu

 

Trúc-Lâm Yên-Tử @  Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam

pay per click advertising

Thông Báo: Trang nhà Trúc-Lâm Yên-Tử_Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam nhận đăng quảng cáo cho các cơ sở thương mại. Rất mong đón nhận sự ủng hộ của quý độc giả ở khắp mọi nơi. Đa tạ. Xin vui lòng liên lạc qua email truclamyentu@truclamyentu.info để biết thêm chi tiết. We add your banner or small texted-based on our website, please contact us at truclamyentu@truclamyentu.info. Thanks

Đang xem báo Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam

Flag Counter