lịch sử việt nam

Trang Chính

Bản Lên Tiếng Của Thư Viện Hoa Sen:

Bưu-Hoa Tem Thư Việt-Nam Cộng-Hòa:

Biển Cả Và Con Người:

Blogs (Bản Tin các Blogs;  Blog Ba Sàm; Blog Cầu Nhật-Tân; Blog Chu-Mộng-Long; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo; Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Diễn-Đàn Công-Nhân; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Huỳnh-Ngọc-Chênh; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào; Blog Quê Choa VN; )

Chết Bởi Trung Cộng

Lịch Sử Trung Cộng Cướp Nước Việt-Nam

Những Sự Thật Cần Được Biết Về Sinh-Hoạt Cộng Đồng Việt-Nam

Những Sự Thật Lịch-Sử Cần Phải Biết Về Lịch-Sử Và Phật Giáo Việt Nam

Pháp Luân Đại Pháp Cứu Độ Chúng Sanh

Sitemap

Tự-Điển Địa Linh Nhân Kiệt Của Việt-Nam

 

 

 

Tự-Điển Địa-Linh Nhân-Kiệt Của Việt-Nam

Thần Việt Điện 2010 

Chuyên-mục Tự-Điển Địa-Linh Nhân-Kiệt Của Việt-Nam được thành lập nhằm vinh-danh những anh-hùng, anh-thư đã dầy ân đức đối với đất nước và dân-tộc Việt-Nam qua nhiều thời đại nhân dịp Giổ Tổ Hùng Vương Việt lịch 4893 cũng như kỷ-niệm lần thứ 59 Quốc Khánh 26-10.   

Vị tư lệnh xuất sắc nhất”: Ngô Quang Trưởng

1, 2

(‘The Most Brilliant Commander’: Ngo Quang Truong)

By James H. Willbanks

Tướng Ngô Quang Trưởng qua đời ngày 22/1/2007 tại Fairfax, Virginia. Để tưởng niệm ông, người dịch xin gửi tới độc giả bài báo của Giáo Sư cựu chiến binh tại chiến trường An Lộc, James H. Willbanks, công bố ngày 15/10/2007 trên chương trình truyền hình Lịch Sử Hoa Kỳ băng tần C-SPAN3 (HistoryNet.com C-SPAN3 AMERICAN HISTORY TV).

(Nguyễn Tường Tâm)

lịch sử việt nam

Tướng Ngô Quang Trưởng

...

Ngày 30/3/1972, Bắc Quân tung ra cuộc tấn công “Đông Xuân” (Easter Offensive). Lực lượng tấn công gồm 14 sư đoàn và 26 trung đoàn độc lập với hơn 120,000 quân và khoảng 1,200 chiến xa và xe cơ giới vũ trang khác. Mục tiêu chính của Bắc Quân là tỉnh Quảng Trị ở phía bắc, Kontum ở Cao Nguyên Trung Phần và An Lộc ở xa hơn về phía nam thuộc Vùng III Chiến Thuật.

Cuộc tấn công bắt đầu vào trưa ngày thứ Sáu, ngày kỷ niệm Chúa bị đóng đinh (Good Friday), với các cuộc pháo kích nặng nề vào tất cả các căn cứ hỏa lực trong Vùng I Chiến Thuật, phía nam của khu Phi Quân Sự (DMZ). Ngày hôm sau, ba sư đoàn thuộc Mặt Trận B-5 của Bắc quân tấn công một loạt các căn cứ hỏa lực của QLVNCH ngay phía nam khu Phi Quân Sự, được trấn giữ bởi Sư đoàn 3 Bộ Binh tân lập. Các binh sĩ QLVNCH bị tràn ngập với tỉ số 1 chống 3, đã rút lui trong khi Bắc quân tấn công về phía nam. Trong khi hết căn cứ hỏa lực này tới căn cứ hỏa lực khác rơi vào tay 40,000 Bắc quân, căn cứ chiến đấu tại tỉnh Quảng Trị bị đe dọa và cuối cùng di tản trước cuộc tấn công. Trong cuộc chiến đấu cay đắng đó, Sư đoàn 3 Bộ Binh VNCH bị tan nát và không còn khả năng chiến đấu.

Ngày mùng 1/5/1972, Cộng quân chiếm tỉnh Quảng Trị. Điều này giúp Cộng quân kiểm soát các vùng lân cận và tiếp tục tấn công về phía nam. Biết được tình hình nguy ngập, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã giải nhiệm Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh Vùng I Chiến Thuật, người không có khả năng ngăn chận cuộc tấn công của Cộng Quân và ra lệnh Tướng Trưởng đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I kiêm vùng I chiến thuật. Ông Trưởng rời bộ tư lệnh Quân Đoàn IV ở Cần Thơ và tới Đà Nẵng ngày mùng 3/5. Sử gia Lewis Sorley sau đó viết rằng việc thay đổi cấp chỉ huy này có ảnh hưởng như nhanh như điện. Sự trở lại của ông Trưởng đã giúp trấn an tình hình, và chỉ riêng sự hiện diện của ông cũng mang lại niềm hy vọng mới cho các lực lượng VNCH tại Vùng I.

Tướng Trưởng mau chóng nhận quyền chỉ huy, ra lệnh bắn tại chỗ tất cả các đào binh nào không trở về trình diện đơn vị trong vòng 24 giờ. (ghi chú của người dịch: Trong vòng thân mật gia đình, ông tâm sự chưa bao giờ ông ra lệnh bắn ai) Ông lên truyền  hình và hứa sẽ giữ Huế và đẩy lui Cộng quân. Ông thiết lập ban tham mưu rồi chuyển bộ tư lệnh của ông ra Huế, nơi đang bị rối loạn trước cuộc tấn công đang tiếp diễn của Cộng quân. Sau khi ổn định tình hình, ông thiết lập kế hoạch phòng thủ toàn diện nhằm chận đứng cuộc tiến công của Cộng quân. Đồng thời ông thiết lập kế hoạch tái huấn luyện và bổ sung các đơn vị trước đó bị tơi tả trong lúc rút lui khỏi Quảng Trị. Với thiết bị mới được Hoa Kỳ cung cấp, ông tập hợp các đơn vị đó lại và cho tái huấn luyện cấp tốc.

Cho tới giữa tháng 5, cuộc phòng thủ Huế đã được củng cố, tình hình đã ổn định và các đơn vị tái phục hồi đã sẵn sàng. Ông Trưởng tung ra một cuộc phản công với ba sư đoàn để tái chiếm những vùng bị mất, với sự trợ giúp của hỏa lực Hoa Kỳ, trong đó có các cuộc oanh tạc của pháo đài bay B-52, không yểm cận chiến của các oanh tạc-chiến đấu cơ (fighter-bombers) của Không, Hải Quân và TQLC Hoa Kỳ; trực thăng tấn công (Army attack helicopters); và hải pháo của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ. Đây là một tiến trình chậm chạp và được xem xét cẩn thận, nhưng các lực lượng của ông đã đẩy lui được sáu sư đoàn quân Bắc Việt để tái chiếm Quảng Trị vào ngày 16/9. Nhiều căn cứ hỏa lực dọc theo vùng Phi Quân Sư được tái chiếm (1), và tới cuối tháng 10 tình hình Vùng I được ổn định. Với việc tái chiếm Quảng Trị, và đứng vững của QLVNCH tại Kontum và An Lộc, Cuộc tấn công của Bắc quân đã thất bại. Ông Trưởng đã hoàn toàn biến đổi tình hình thê thảm  khắp Vùng I nhờ sức mạnh cao ngất của tài lãnh đạo của ông (by the sheer force of his personal leadership.)

Năm 1975 ông Trưởng đứng trước thử thách lớn nhất đời ông. Công cuộc phòng thủ của QLVNCH tại Cao Nguyên Trung Phần sụp đổ trước một cuộc tấn công mới của Bắc quân. Tổng Thống Thiệu ra lệnh ông tử thủ Huế, và ông đã bắt đầu củng cố công cuộc phòng thủ thành phố này, chuẩn bị chiến đấu tại đây. Tuy nhiên, sau đó là một tuần lễ tranh luận (debate) với TT Thiệu và các sĩ quan tham mưu quân sự cao cấp của tổng thống, nổi bật bởi những lên án (highlighted by accusations), những lệnh lạc mâu thuẫn và các đề nghị không thể thi hành được. Trong các cuộc thảo luận này, ông Trưởng được lệnh bỏ Huế, mặc dù ông quả quyết rằng vẫn có thể phòng thủ được. Trong khi ông chuẩn bị thi hành lệnh mới nhất của Tổng Thống, thì vào phút chót Tổng Thống lại ra lệnh ngược lại bảo ông giữ Huế bằng mọi giá. Theo một quan sát viên cho phóng viên tuần báo Time biết: “Giống như là một người ngu hay một chàng điên (It was like a yo-yo) (2). Đầu tiên, ông Thiệu ra lệnh rút lui Huế và phòng thủ Đà Nẵng. Rồi ông lại hủy bỏ lệnh đó và bảo giữ Huế. Rồi ông lại đổi ý và bảo binh sĩ rút lui.”

Lệnh lạc rối mù (Confusion reigned). Ông Trưởng không nhận được rõ ràng những lệnh mới, nhưng ông cố gắng tuân hành theo khả năng của ông. Mặc dù vậy, việc rút lui khỏi Huế đã trở thành một thảm họa tương đương về mức độ với cuộc rút lui ở Cao Nguyên Trung Phần. Dưới cuộc pháo kích của đại bác hạng nặng, các lực lượng của ông tan rã. Vì những lệnh lạc mâu thuẫn, thiếu chuẩn bị và sự mất tinh thần, cuộc di tản trở thành một thất bại hoàn toàn. Lãnh đạo yếu kém ở nhiều đơn vị, sự mất thống nhất của các đơn vị và lo lắng về gia đình đã mau chóng đưa tới hoảng hốt và hoàn toàn rối loạn.

Tình hình tại Đà Nẵng cũng tồi tệ như vậy. Trong khi thành phố bị hai sư đoàn Cộng quân pháo kích, ông Trưởng cố điều động cuộc di tản bằng đường biển. Nhưng tiếp theo đó là một địa ngục, khi các thường dân cũng như binh sĩ cố thoát về phương nam bằng mọi cách. Đà Nẵng rơi vào tay Cộng quân vào ngày 30/3. Trong tiến trình bỏ rơi một thành phố có 3 triệu dân, bốn sư đoàn chủ lực quân tan rã, trong đó có hai sư đoàn ưu tú nhất của QLVNCH: Sư đoàn 1 BB và sư đoàn TQLC.

Tướng Trưởng, một người quyết tâm muốn giữ Huế, đã bị đặt trong tình huống không thể phòng thủ nổi bởi các lệnh lạc mâu thuẫn nhau của TT Thiệu. Khi Đà Nẵng thất thủ, ông Trưởng và sĩ quan tham mưu của ông đã dùng phao bơi ra đoàn tầu cấp cứu của Hải quân Việt Nam. Ông Trưởng đã hết sức đau lòng vì sự mất mát các lực lượng của ông, đặc biệt là Sư đoàn 1 BB mà ông yêu mến. Tin tức cho hay ngay khi về tới Saigon ông vào nằm bệnh viện vì mất tinh thần (nervous breakdown). Một sĩ quan Hoa Kỳ đã từng làm việc thân cận với ông nghe thấy vậy đã đi tìm ông và thu xếp để đưa gia đình ông ra đi trên một chiến hạm Hoa Kỳ khi Saigon rơi vào tay Cộng sản.

Gia đình ông bị chia rẽ một thời gian: Vợ ông và người con trai lớn tới được căn cứ Fort Chaffee, ở tiểu bang Arkansas; các con gái ông và người con trai giữa đã chạy được với một nhân viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tới thành phố Seattle; và người con trai út không biết một chữ tiếng Anh, ở trại tị nạn Pendleton, tiểu bang California trong nhiều tuần lễ trước khi danh tánh của em được tìm thấy.

Sau khi tái hợp, ông Trưởng và gia đình chuyển tới Falls Church, tiểu bang Virginia. Sau khi ổn định ở đây, ông viết nhiều bài nghiên cứu lịch sử về cuộc chiến Việt Nam cho Trung Tâm Quân Sử của Quân Đội Hoa Kỳ. Năm 1983, cùng năm ông trở thành công dân Hoa Kỳ, ông chuyển tới Springfield cùng tiểu bang. Ông làm nhân viên phân tích điện toán (computer analyst) cho Sở Hỏa Xa Hoa Kỳ (Association of American Railroads) trong 10 năm cho tới khi ông về hưu năm 1994.

Mặc dù kết quả của cuộc chiến tại Vùng I và cuộc sụp đổ sau đó của miền Nam VN, danh tiếng của ông Trưởng không thay đổi. Trong hồi ký năm 1992, Tướng Norman Schwarzkopf đã gọi Tướng Trưởng là “vị tư lệnh chiến thuật sáng giá nhất mà tôi được biết”. Ông viết, “Chỉ hình dung địa thế và rút kinh nghiệm chiến đấu chống địch quân trong mười lăm năm của mình, Tướng Trưởng đã chứng tỏ khả năng phi thường (an uncanny ability) tiên đoán những gì địch quân sẽ thực hiện.”

Tướng Schwarzkopf viết: “Ông ấy trông không có vẻ một thiên tài quân sự (a military genius): chỉ cao có 5 feet 7 (khoảng 1m70)… rất gầy, vai xuôi và cái đầu dường như quá khổ so với thân mình… Gương mặt dài và nghiêm nghị… và luôn luôn ngậm điếu thuốc trên môi. Tuy nhiên ông được các sĩ quan và binh sĩ kính nể và những tư lệnh Bắc quân biết khả năng của ông sợ hãi.

Không giống một số tướng lãnh Miền Nam, những người đã trở nên giầu có cùng với sự thăng tiến cấp bậc, ông Trưởng ngay thẳng và theo một người bạn thân của ông thì ông sống một cuộc sống “khắc khổ” (spartan and ascetic life). Trung Tướng Cushman cho biết Tướng Trưởng không có một bộ đồ vest, và vợ ông nuôi heo trong khu nhà khiêm tốn của ông trong doanh trại ở Cần Thơ. Tướng Cushman mô tả Tướng Trưởng, “Ông ấy rất sáng tạo và luôn luôn tìm cách cải thiện đời sống binh sĩ và gia đình họ.”

Một con người khiêm tốn, ông Trưởng là một người không ích kỷ, dốc lòng cho binh nghiệp. Ông hết lòng với thuộc cấp, và nổi tiếng trong việc chăm sóc binh sĩ, thường bay trong lửa đạn để tới đứng với binh sĩ trong mưa và bùn lầy trong lúc bị địch quân tấn công. Ông đối xử với mọi người như nhau và không dành đặc ân cho ai. Có câu chuyện kể rằng ông từ chối đáp ứng một yêu cầu đưa người cháu gọi ông bằng bác ruột về đơn vị không chiến đấu, để rồi sau đó người cháu của ông đã hy sinh tại mặt trận.

*

Ghi chú: JAMES H. WILLBANKS là Giám đốc Khoa Lịch Sử Quân Sự tại Trường Chỉ Huy Tham Mưu Lục Quân Hoa Kỳ tại Căn Cứ Fort Leavenworth, Kansas. (director of the Department of Military History at the U.S. Army’s Command and General Staff College at Fort Leavenworth, Kansas). Ông là một cựu sĩ quan bộ binh trong 23 năm, đã trải qua cuộc bao vây bằng pháo binh khốc liệt dài hai tháng tại An Lộc trong cuộc Tấn Công Đông Xuân (Easter Offensive) của Bắc quân vào năm 1972.

*

Có một số ý kiến phản hồi của các độc giả gốc Việt cũng như người sắc tộc khác. Người dịch chỉ dịch vài ý kiến tiêu biểu của mấy độc giả người sắc tộc khác dưới đây:

- Robert Valenzuela viết: Một tấm gương tốt của một vị chỉ huy và một quân nhân thực sự. Đã sống hiểm nguy ngoài mặt trận như các thuộc cấp. Ước gì Việt Nam có nhiều người như ông…

- Cav Advisor viết: Tôi đã có may mắn được phục vụ với tư cách cố vấn tại Thiết đoàn 7 kỵ binh thuộc Sư đoàn 1 BB-VNCH khi Tướng Trưởng làm tư lệnh. Ông ấy là một vị tư lệnh xuất sắc (superb leader). Tôi luôn luôn kính trọng nhớ mãi những kỷ niệm với ông.

- Robert Branson viết: Tôi có may mắn đặc biệt được thuyết trình cho Tướng Trưởng tại Quận Kế Sách, tỉnh Ba Xuyên. Ông là người hiểu biết, chú ý và ngay thẳng với lỗi lầm. (honest to a fault). Quan trọng  hơn nữa, ông đối xử với các sĩ quan trong đơn vị và các sĩ quan tham mưu của ông cùng một tiêu chuẩn.

Ghi chú:

(1): Tác giả có sự lầm lẫn ở đây. Sau khi tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, Quân Lực VNCH được lệnh không tái chiếm lại vùng đất bên bờ bắc sông Thạch Hãn. Từ đó tới sông Bến Hải cũng còn xa khoảng 30 km trong khi vùng Phi Quân Sự chỉ cách sông Bến Hải có 5km thôi, cho nên QLVNCH không tái chiếm lại những căn cứ hỏa lực dọc theo vùng Phi Quân Sự như tác giả viết (ghi chú của Nguyễn Tường Tâm).

(2): yo-yo: a stupid or foolish person (Merriam-Webster’s Dictionary and Thesaurus).

© Nguyễn Tường Tâm
DCV

1, 2

 

Trúc-Lâm Yên-Tử @  Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam

Đang xem báo Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam

Flag Counter