lịch sử việt nam

Trang Chính

Bản Lên Tiếng Của Thư Viện Hoa Sen:

Bưu-Hoa Tem Thư Việt-Nam Cộng-Hòa:

Biển Cả Và Con Người:

Blogs (Bản Tin các Blogs;  Blog Ba Sàm; Blog Cầu Nhật-Tân; Blog Chu-Mộng-Long; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo; Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Diễn-Đàn Công-Nhân; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Huỳnh-Ngọc-Chênh; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào; Blog Quê Choa VN; )

Chết Bởi Trung Cộng

Lịch Sử Trung Cộng Cướp Nước Việt-Nam

Những Sự Thật Cần Được Biết Về Sinh-Hoạt Cộng Đồng Việt-Nam

Những Sự Thật Lịch-Sử Cần Phải Biết Về Lịch-Sử Và Phật Giáo Việt Nam

Pháp Luân Đại Pháp Cứu Độ Chúng Sanh

Sitemap

Tự-Điển Địa Linh Nhân Kiệt Của Việt-Nam

 

 

Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

Những Sự Thật Cần Phải Biết Về Lịch-Sử Và Phật-Giáo Việt-Nam

thư viện hoa sen, hoa sen, hoasen, hoa sen xanh, nhân bản, từ bi, trung thực, trong trắng

Đừng Im Tiếng – Mà Phải Lên Tiếng

 

Những Sự Thật Cần Phải Biết (Phần thứ 103) Lòng thù hận Thiên Chúa Giáo

Lữ Giang

Như chúng tôi đã nói nhiều lần, theo báo cáo của CIA, chủ trương của nhóm Phật Giáo đấu tranh là tiến tới thành lập một chính quyền Phật Giáo do giáo quyền lãnh đạo (theocracy). Cuộc đấu tranh đã lên đến cao điểm vào năm 1966, khi Phật Giáo cướp chính quyền thất bại ở Đà Nẵng và Huế. Người chủ trương và lãnh đạo cuộc đấu tranh cướp chính quyền là Thích Trí Quang và lý thuyết gia về Phật giáo là “đạo dân tộc” và Phật giáo phải nắm chính quyền là Lê Mạnh Thát.
Khi đấu tranh, các tăng sĩ lãnh đạo đã dùng lòng hận thù Thiên Chúa Giáo và vọng ngữ làm động lực. Tuy nhiên, sau khi thất bại, nhóm Phật Giáo đấu tranh vẫn tiếp tục xử dụng lòng hận thù Thiên Chúa giáo và vọng ngữ để chạy tội, biện minh cho những sai lầm nghiêm trọng của mình. Lòng thù hận Thiên Chúa giáo và vọng ngữ đã trở thànhcon đường giải thoátcủa Phật Giáo đấu tranh!

LÒNG HẬN THÙ BIỂU TƯỢNG SỰ TUYỆT VỌNG

Sách báo được viết để kích động lòng hận thù Thiên Giáo từ 1963 đến nay khó mà đếm hết được. Vào các nhà sách trong và ngoài nước đều thấy tràn ngập. Hiện nay trên Internet, có hai websites đã chính thức xử dụng lòng hận thù Thiên Chúa Giáo và vọng ngữ như “con đường giải thoát” của Phật Giáo, đó là sachhiem.netchuyenluan.org. Hầu hết các websites của Phật Giáo đều có tham gia vào trận chiến này. Hàng ngày, số bài chống Thiên Chúa Giáo được chuyển đi trên các diễn đàn Internet Việt ngữ không phải chỉ hàng chục mà có lúc đến hàng trăm lần: Công Giáo hắc sử, Tội ác của Công Giáo La Mã, Phải tiêu diệt Thiên Chúa Giáo, Nói về 7 núi tội ác của Công Giáo, Sự thật về Tội ác Nhân Loại của Đạo Công Giáo và tội ác Diệt Chủng Nhân loại của Tòa Thánh VATICAN, Công Giáo La Mã là một đặc sản văn hóa phi nhân tính, v.v.

Dĩ nhiên, đó chỉ là tiếng chó sủa trăng, chẳng làm rụng được sợi chân lông của ai, nhưng nó biểu tượng cho sự tuyệt vọng của những kẻ bị dồn vào đường cùng.

CHỈ LÀ NHỔ RA LIẾM LẠI!

Phương pháp thông dụng được nhóm Phật giáo đấu tranh xử dụng là nhổ ra liếm lại và coi đó là bằng chứng lịch sử”! Chúng đã biến wikipedia.org thành một công cụ, đưa lên những bài xuyên tạc lịch sử rồi trích dẫn lại và coi đó là tài liệu lịch sử đáng tin cậy! Chúng tôi đã đưa một thí dụ cụ thể:

Đọc bài nói về Ngô Đình Diệm trên wikiprdia.org, chỉ vài hàng đầu đã thấy sai bét rồi. Nhiều người tin người viết thuộc nhóm Giao Điểm hay Ấn Quang. Tác giả viết: “Ngô Đình Diệm sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901 tại làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình trong một gia đình quan lại có truyền thống theo đạo Công giáo lâu đời ở Việt Nam.”
[xem: Ngô Đình Diệm – Wikipedia tiếng Việt ]

Có người thấy bài viết bậy quá đã vào thử sửa lại một đoạn đầu xem sao: “Ngô Đình Diệm sinh ngày 3.1.1901 tại làng Phước Quả, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên...”

Nhưng một tuần sau mở ra xem lại, bọn lưu manh đã sửa lại như cũ! Chúng vừa lưu manh vừa dốt! Ông Ngô Đình Khả sinh tại Quảng Bình, còn anh em ông Diệm đều sinh ở Huế (còn sổ rửa tội).

Những phịa sử của Đỗ Mậu, Cửu Long Lê Trọng Văn (tức Lê Văn Thông, cán bộ ở Lào), Chu Bằng Lĩnh (Mạc Thu, tên thật là Lưu Đức Sinh, ghiền thuốc phiện)... được coi như là “kinh nhật tụng” của Phật Giáo đấu tranh, cứ đem ra tụng đi tụng lại hết ngày này qua ngày khác trên các diễn đàn.

Không phải chỉ “bọn lau nhau” tích cực phát động chiến dịch này, mà một số cao tăng cũng đã đứng ra lãnh đạo. Người hung hăng nhất là Thích Trí Quang. Từ 1963 đến nay, ông đã liên tục dùng “hồi ký” để phổ biến phịa sử chống Thiên Chúa Giáo. Trước tiên là cuốn “Tiểu truyện tự ghi”. Chúng tôi biết rất rõ quê quán, gia đình và bổn sư của ông, thế mà ông tưởng không ai biết, cứ “múa gậy vườn hoang”. Tập “Từ Rạch Cát tới Tòa Đại Sứ Mỹ được ông viết gióng truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, còn ông là Tôn Ngộ Không! Bị chúng tôi lật tẩy, năm 2011 ông viết lại với một văn phong ôn hòa hơn, lấy tên là “Trí Quang Tự Truyện được Nhà xuất bản Tổng Hợp ở Sài Gòn ấn hành. Cuốn này được viết và trình bày chuyên nghiệp hơn, có lẽ có người giúp, nhưng lại mâu thuẫn với nhiều điều ông nói trong các cuốn trước và phịa sử vẫn còn nhiều (chúng tôi sẽ nói sau), vì thế có người cho rằng “Trí Quang đã tự lột mặt nạ của chính mình”! Ông vẫn còn nói lẩm cẩm về Dụ số 10, một văn kiện mà ông chẳng hiểu gì hết. Ông loạn ngôn: Rõ ràng, Dụ số 10 cho Thiên Chúa Giáo là độc tôn, là “tôn giáo”, cho các tôn giáo khác, kể cả Phật Giáo, chỉ là tín ngưỡng lặt vặt. Vậy mà Dụ nầy, thủ tướng Diệm mới cầm quyền, đã ban hành tục Dụ duy trì, ‘ký thay Quốc trưởng’.” Thật ra Dụ số 10 được Bảo Đại ban hành từ năm 1950 vẫn tồn tại đến 30.4.1975, ông Diệm và các chính phủ tiếp theo không hề ban hành một văn kiện nào để duy trì hay hủy bỏ Dụ số 10, vì nội dung  của Dụ này không khác gì Luật về hiệp hội 1901 (Association loi 1901) của Pháp đã được ban hành ở Việt Nam trước đó và còn tồn tại ở Pháp đến ngày nay. Nhưng ông có trình độ văn hóa khá thấp, thấp nhất trong các tăng sĩ lãnh đạo Ấn Quang, nên nói chuyện pháp lý với ông rất khó. Ông vẫn ôm chặt lòng thù hận Thiên Chúa Giáo!

ĐIỆP VIÊN HAI MANG?

Hôm nay chúng tôi nói đến một nhân vật quan trọng khác đối với cuộc chính biến 1963, đó là Thích Đức Nghiệp. Chúng tôi gọi ông là một nhân vật quan trọng vì ông và Trần Quang Thuận đã được CIA xử dụng để tổ chức vụ thiêu Thích Quảng Đức, khởi đầu cho kế hoạch lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm.

Tài liệu cho biết William Kohlmann, một nhân viên tình báo Mỹ đang làm việc ở Anh quen biết với Trần Quang Thuận đã được điều động qua Sài Gòn để hướng dẫn Trần Quang Thuận và Đại Đức Thích Đức Nghiệp thực hiện vụ thiêu Thích Quảng Đức. Lúc Đó Đại Đức Thích Đức Nghiệp đang là giáo sư Anh ngữ tại trường Vạn Thắng. Ông đã từng làm thông dịch viên cho Mỹ từ cuộc di cư 1954. Thích Quảng Độ làm thông dịch viên cho USIS.

Bill Kohlmann kể lại rằng ban tổ chức định dùng xăng để thiêu Thầy Quảng Đức, nhưng được cho ý kiến là xăng sẽ cháy rất nhanh, không đủ thời gian để chụp hình và làm các nghi thức trước khi lửa tắt, và thời gian cháy chưa đủ để làm Thầy Quảng Đức tắt thở, do đó phải đổ thêm Diesel vào cho cháy chậm lại. Thích Đức Nghiệp có nhiệm vụ liên lạc với ký giả Malcolm Browne của AP, một nhân viên CIA khác, có nhiệm vụ báo tin cho các ký giả đến đúng lúc để quay phim, chụp hình và gởi đi khắp thế giới. Ba mươi vụ tự thiêu tiếp theo không có CIA dính vào, đã trở thành con số không!

Trong vụ này, Trần Quang Thuận đã phạm một lỗi lầm rất lớn là dùng chiếc xe Austin mang số DBA 599 của ông già vợ là Tôn Thất Hối, chở Thích Quảng Đức đến hiện trường nên cơ quan tình báo của ông Diệm phát hiện ra đường dây tổ chức. Trần Quang Thuận bị CIA sa thải ngay vì lý do “làm gián điệp cho Pháp”. William Kohlmann nói ông ta đã biện hộ cho Thuận nhưng CIA cứ sa thải. Vì hồ sơ này, khi Trần Quang Thuận qua Mỹ xin vào làm cho sở xã hội đã bị từ chối.

Lý lịch của Thích Đức Nghiệp vẫn được giấu kín. Thích Quảng Độ sinh năm 1928. Thích Đức Nghiệp đồng tuổi hay chỉ nhỏ hơn Thích Quảng Độ một hai tuổi. Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, ông được Mỹ cho đi học tại Đại Học Yale ở Connecticut và được cấp bằng tiến sĩ triết học. Nhưng ông hiện là Phó Pháp Chủ Hội Đồng Chứng Minh GHPG Nhà Nước và làm mưa làm gió ở chùa Giác Minh. Nhiều bài trong nước tố ông là tay sai của Giáo Hội quốc doanh và coi ông là một thành phần hai mang, vừa làm tay sai cho Mỹ vừa làm tay sai cho Cộng Sản.

ĐỈNH CAO CỦA LÒNG HẬN THÙ VÀ VỌNG NGỮ

Thích Đức Nghiệp có viết cuốn Đạo Phật Việt Nam” được Thành Hội Phật Giáo Sài Gòn xuất bản năm 1995, trong đó có rất nhiều phịa sử. Hôm nay chúng tôi chỉ trích một đoạn ông nói về nguyên nhân đưa đến biến cố tối 8.5.1963 trước đài phát thanh Huế, để đọc giả thấy ông phịa tài tình không thua gì Đặng Văn Nhâm viết cuốn “Giặc thầy chùa”. Ở trang 192 ông viết:

 «Xuyên qua những dữ kiện lịch sử, việc cố tình kỳ thị tôn giáo của chế độ ông Diệm đã tiềm phục từ lâu, cụ thể từ 1957 tới 1963 qua những bản phúc trình của Phật giáo Trung Việt. Ðặc biệt vào lễ khánh thành nhà thờ Ðức Mẹ La Vang tại Quảng Trị, trùng hợp với đại lễ Phật Ðản hằng năm, từ ngày 8-4 đến 15-4 âm lịch trên toàn quốc. Vào dịp lễ khánh thành này, ông Diệm, ông Nhu, ông Cẩn, Giám Mục Ngô Ðình Thục cùng đi dự lễ. Trên đường tới nhà thờ tại Quảng Trị, phải đi qua thành phố Huế, thấy trang hoàng cổng chào và cờ Phật giáo rợp trời, ông Diệm mới hỏi người tùy tùng và được trả lời: "Ðây là cờ Phật giáo. » Do đó, ông Diệm liền hạ lệnh cho Quách Tòng Ðức, Ðổng lý văn phòng phủ Tổng thống, cùng đi theo: "Hãy gửi gấp công điện, khắp nơi phải hạ cờ Phật giáo xuống!". Ðó là nguyên nhân chính xảy ra cuộc tranh đấu Phật giáo chống chính quyền ông Diệm vào mùa Phật Ðản năm 1963.»
[Thích Đức Nghiệp, “Đạo Phật Việt Nam”, Thành hội Phật Giáo TP Hồ Chí Minh, 1995, tr. 192.]

Đây là một sự bịa đặt quá trắng trợn! Hàng năm Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đều làm lễ «khánh thành» nhà thờ Đức Mẹ La Vang? Chẳng ai tin được chuyện này.

Đền thờ Đức Mẹ La Vang do Linh Mục René Toussaint Morineau khởi xây từ năm 1924 và khánh thành ngày 22.8.1928. Năm 1901, Đức Giám mục Gaspar Lộc quyết định tổ chức 3 ngày lễ thánh hiến Ðền Thánh La Vang và cuộc cung nghinh thánh tượng Ðức Mẹ La Vang từ 6 đến 8.8.1901. Giáo dân giáo phận Huế thuộc ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên đã tham dự rất đông đảo. Từ đó, Đại Hội Thánh Mẫu La Vang được tổ chức 3 năm một lần vào giữa tháng 8, tức vào dịp lễ Đức Mẹ Lên Trời vào ngày 15 tháng 8. Lễ này không hề trùng với lễ Phật Đản như Thích Đức Nghiệp đã nói, vì trước 1963 lễ Phật Đản được tổ chức vào ngày 4 tháng tư âm lịch, sau đó đổi lại ngày 15 tháng 4, tức trước Đại Hội Thánh Mẫu La Vang khoảng 2 tháng.

Đại Hội La-Vang lần thứ 14 được tổ chức năm 1958, lần thứ 15 năm 1961 và lần thứ 16 năm 1964. Năm 1963 không có Đại Hội La Vang và cũng không có chuyện «ông Diệm, ông Nhu, ông Cẩn, Giám Mục Ngô Ðình Thục cùng đi dự lễ» ở La Vang năm này.

Do lời thỉnh cầu của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, ngày 22.8.1960 Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã long trọng ban sắc chỉ nâng đền thờ La Vang lên bậc Vương Cung Thánh Ðường dâng kính Ðức Mẹ La Vang. HĐGMVN họp tại Huế ngày 13.4.1961 đã quyết định chọn đền thờ Ðức Mẹ Lavang làm "Ðền Thờ toàn quốc dâng kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Ðức Mẹ", và nhận linh địa Lavang làm "Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc". Do đó, Đại Hội Thành Mẫu La Vang năm 1961 được tổ chức rất trọng thể, có 10 vị Giám mục, 300 Linh mục, 1000 tu sĩ nam nữ và khoảng 300.000 giáo dân đến dự. Nhân dịp này, hai phái đoàn cao cấp của chính phủ VNCH cũng có mặt, một do Tổng Thống Ngô Đình Diệm dẫn đầu đến La Vang ngày 16.8.1961 và một do Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ đến ngày La Vang ngày 21. Tướng Perakiraly của Hungari cũng tham dự.

Hòa Thượng Đức Nghiệp đã lấy biến cố 1961 ghép vào năm 1963 và coi đó là nguyên nhân đưa tới biến cố tối 8.5.1963 tại đài phát thanh Huế. Vọng ngữ như thế, thật khó tưởng tượng nổi!

Một người đậu tiến sĩ triết học ở Đại Học Yale, Hoa Kỳ, không thể viết một sự kiện lịch sử sai lầm nghiêm trọng như vậy. Nhưng ông đã bịa đặt ra những chuyện nói trên với hai mục tiêu: Mục tiêu thứ nhất là kích động lòng hận thù Thiên Chúa Giáo làm động lực đấu tranh, và mục tiêu thứ hai là biện minh cho những sai lầm của Giáo Hội Ấn Quang, vì những tham vọng chính trị hão huyền, đã bị Mỹ rồi Cộng Sản biến thành công cụ, xài xong rồi đập bể ra từng mảnh!

Trong bài "Buddhism and Politics”, Hòa Thượng Sri Dhammananda có nhận định như sau:

Khi tôn giáo bị sử dụng để thỏa mãn các ý đồ chính trị thì tôn giáo sẽ phải hy sinh các lý tưởng đạo đức cao quí của mình và trở nên bị hạ thấp giá trị do những nhu cầu chính trị trần tục.”

(When religion is used to pander to political whims, it has to forego its high moral ideals and become debased by worldly political demands.)

Ngày 7.8.2014
Lữ Giang

Trúc-Lâm Yên-Tử @  Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam

Đang xem báo Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam

Flag Counter