lịch sử việt nam

Trang Chính

Bản Lên Tiếng Của Thư Viện Hoa Sen:

Bưu-Hoa Tem Thư Việt-Nam Cộng-Hòa:

Biển Cả Và Con Người:

Blogs (Bản Tin các Blogs;  Blog Ba Sàm; Blog Cầu Nhật-Tân; Blog Chu-Mộng-Long; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo; Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Diễn-Đàn Công-Nhân; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Huỳnh-Ngọc-Chênh; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào; Blog Quê Choa VN; )

Chết Bởi Trung Cộng

Lịch Sử Trung Cộng Cướp Nước Việt-Nam

Những Sự Thật Cần Được Biết Về Sinh-Hoạt Cộng Đồng Việt-Nam

Những Sự Thật Lịch-Sử Cần Phải Biết Về Lịch-Sử Và Phật Giáo Việt Nam

Pháp Luân Đại Pháp Cứu Độ Chúng Sanh

Sitemap

Tự-Điển Địa Linh Nhân Kiệt Của Việt-Nam

 

 

Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

Những Sự Thật Cần Phải Biết Về Lịch-Sử Và Phật-Giáo Việt-Nam

thư viện hoa sen, hoa sen, hoasen, hoa sen xanh, nhân bản, từ bi, trung thực, trong trắng

Đừng Im Tiếng – Mà Phải Lên Tiếng

 

Những Sự Thật Cần Phải Biết (Phần thứ 127) Kế Hoạch Cho Ngày Tàn Của Phật Giáo

Pháp lữ 4 phương trong Giáo Pháp!

Hơn tháng trước Người Ăn Mày Thế Kỷ có nhận được bài viết tiếng Anh : Kế Hoạch Ngày Tàn Của Phật Giáo. Bần Tăng có gởi đi cho 3.000 email Anh ngữ với lời giải thích mà nhiều email gởi lại thật lý thú là: Nên cho họ giảng Kinh Thánh các tu viện Phật Giáo, rồi mình chỉ họ và mình cách hành Kinh Thánh coi có phải y như lời Phật dạy chăng?. Matthew 10.9 tới 10.10 và 10.34 tới 10.39. Hỏi họ đã làm chưa mà đi Chuyển Đạo, có mang theo tiền và giày hay là nên vứt hết để mang Cây Thập Tự Giá...

Phật Giáo là Đạo Đức Sống của Vũ Trụ, lời dạy của đức Thế Tôn là nền tảng vững chắc bất khả xâm phạm và làm thăng hoa trí đức, không những chỉ chư Thiên và loài người trên bước đường giải thoát, mà còn mang phúc lạc cho 6 đường chúng sanh hữu và vô hình.

Tư tưởng Chuyển Đạo không chỉ mới đây mà đã có từ thế kỷ thứ 9 thứ 10, như trong 4 video clip :

http://www.youtube.com/watch?v=LnyjcnuzqIs (Đã bị xóa, kiểm chứng ngày 19-09-2014)

 

http://www.youtube.com/watch?v=uLgs9jnGsNE

 

http://www.youtube.com/watch?v=PNjj5N3VqsU

 

http://www.youtube.com/watch?v=S-p4FYVXAqI

Vì vậy, là người Phật tử hiểu biết Giáo Lý nhà Phật và có niềm tin Bất Động đối với Giáo Pháp Vô Ngã, thì không bao giờ lay chuyển trước những trò chơi môi miệng của những kẻ giả hình, mà ngay cả đức Chúa Jesus sau khi trở về từ miền bắc Ấn Độ ngày đã nói : Môn đệ chân chính.

Matthew 7 (21) "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa!" là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Ðấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. (22) Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?" (23) Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!

(24) "Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. (25) Dù mưa sa, nước cuốn, hay bảo táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. (26) Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trrên cát. (27) Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành".

 (28) Khi Ðức Giêsu giảng dạy những điều ấy xong, đám đông sửng sốt về lời giảng dạy của Người, (29) vì Người giảng dạy như một Ðấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư của họ.

Do vậy chúng ta cứ an tâm là, không có một thế lực chính trị, tôn giáo và quyền lực nào mà có thể làm lay chuyển được Đạo Giác Ngộ, chỉ có những kẻ mượn Áo Cà Sa nhưng trong long tràn đầy man trá “ Marayana - Evil Path” mới có thể làm cho những tâm hồn chơn chất mê lầm, thế nhưng đã 26 thế kỷ trôi qua cho dù những kẻ trá hình không thể tính đếm được như Quảng Ba, Huyền Tôn, Giác Nhiên, Trí Như và những tay Phù Thủy Tôn Giáo cùng quyến thuộc của hai tổ chức Thống Nhất - Thống Nhì thì cũng chỉ là bài toán cộng Thống Khổ, do họ chen lấn giành giựt làm thành viên Cõi U Minh.

Như vậy mà một Phật tử chân chính và một nhà thiện tri thức thì điều tỏ thong được lịch sử Phật Giáo, bị Bà La Môn Giáo trá hình để Chuyển Đạo “ Convert” và Do Thái Giáo sau khi giết Chúa xong, họ thấy loài người hướng về đấng cứu thế Jesus “đệ tử Phật sau 500 năm”, nên họ cũng trá hình để dàng dựng thế lực và quyền lực nhân danh Chúa, nhưng cuối cùng Họ cũng chỉ là những kẻ Bắt Gió “ Chasing The Win”. Không những chỉ thế mà họ thấy quá trở khi biết không thể thoát tay Thần Tử và tội coi thường Công Lý Võ Trụ.

Bần Tăng thời gian bị tai biến “ Stroke” ở Melbourne “ nay 100% hoàn phục” , thì cứ mỗi Chúa Nhật có nhiều nhóm Chuyển Đạo gõ cửa, nhưng thật may mắn cho Họ là được Người Ăn Mày Thế Kỷ gõ Tâm của Họ. Họ nằm chiêm bao cũng không bao giờ tin là một Sứ Giả Như Lai mà thông thuộc Kinh Thánh và hiểu cả nghĩa “ có thâu video. Thế mới biết Họ “ con em chúng ta ” cũng chỉ là nạn nhân của Trò Chơi Chuyển Đạo, bị tẩy não bởi các tư tưởng gây tạo Chiến Tranh Tôn Giáo “ Holy War ” Good New Bible: ISAIHA 13. 3, mà chính thứ Tôn Giáo nầy Đóng Đinh Chúa, như Thích Huyền Tôn mà Bần Tăng nay mai sẽ gởi đi mp3 Vụ Án Linh Mục & Thầy Chùa,  cho người Việt khắp trong và ngoài nước mở mắt, mở tai để nghe những kẻ Lớn Mồm - Lớn Miệng xưng Hòa Thượng - Trụ Trì, lợi dụng danh nghĩa Đại Thừa mà tiểu tâm - tiểu trí.

Xin cảm ơn Trần Thiên Thu gởi attach: Lời Phật Dạy.

Kính chúc an vui và luôn luôn biết nghệ thuật Sống Đạo hơn chỉ là Nói Đạo “ Bán Cháo Phổi như Minh Hiếu”. Nhất là phải gội sạch tư tưởng Đừng Nói – Vì sợ Nói Sự Thật mọi người biết cái xấu, cái tẩy, cái sai, nên hù thêm là Nói bị đọa địa ngục, như vậy chẳng lẽ những kẻ Ý Ác - Khẩu Ác và Thân Ác lại lên Thiêng Đàng ư?. Hay là phải NÓI LÊN SỰ THẬT để mang phúc lạc cho chúng sanh, mà phước tăng tới 1,600,000,000,000 “ một ngàn 600 tỷ kiếp hơn Vua Nam Diêm Phù Đề”. Mời bà con đón đọc bài tới: Thầy Trọc Kiện Kẻ Có Tóc…Một bài viết vô tiền khoán hậu để giúp loài người biết Chân Giả - Phật - Ma sẽ đăng trên tờ Việt Luận thứ sáu tuần tới 25 tháng 9 năm 2009.

Sứ Giả Sự Thật.
Người Ăn Mày Thế Kỷ.

Mời đọc giả đọc bài bên dưới.

KẾ HOẠCH CHO NGÀY TÀN CỦA PHẬT GIÁO 

Bài điểm sách của Allen Carr, LankaWeb
bản Anh ngữ đăng tại BuddhistChannel
bản dịch của Nguyên Tánh 

peoples of the buddhist world

Luân Đôn, Anh Quốc. Một vài hãng dược phẩm ở phương Tây đã tốn nhiều triệu đô (USD) để bào chế và mang ra thị trường một thuốc mới để rồi bị các cơ quan y tế khám phá loại thuốc này có nhiều phản ứng nguy hiểm và bị cấm bán.

Cần thu hồi số tiền đã đầu tư và vì không bán được thuốc ở phương Tây nên  một vài hãng thuốc đã đem các thuốc nguy hại này bán ở các nước thuộc Thế giới Thứ Ba, nơi mà quần chúng ít hiểu biết về các vấn đề liên quan đến sức khoẻ và các chính quyền có thể mua chuộc được. Có thể nói rằng Thiên Chúa Giáo cũng giống như vậy.

Vì đã mất nhiều tín đồ ở phương Tây, nhiều giáo phái Thiên Chúa Giáo bắt đầu tìm cơ hội ở các nơi khác. Dĩ nhiên thế giới Hồi giáo là bất khả xâm phạm.

Ngay chính nhà truyền đạo lạc quan nhất cũng cho rằng cơ hội truyền bá Phúc Âm đến tín đồ Hồi giáo là con số không. Những đối tượng hiển nhiên là Phi châu, Ần Độ và các nước Phật Giáo ở châu Á.

Hiện nay có nhiều tổ chức truyền giáo Phúc âm chuyên cải đạo các Phật tử. Viện Á Châu Thái Bình Dương Học Phật (Asia Pacific Institute of Buddhist Studies) ở Phi luật Tân đang giảng dạy cho các nhà truyền giáo các lớp học thâm sâu về giáo lý Phật Giáo, ngôn ngữ ở các nước Phật Giáo và tổ chức xã hội ở các cộng đồng Phật Giáo - để hiểu biết rõ kẻ thù.

Hội Liên Hữu Trung Á (Central Asia Fellowship) đặc biệt nhắm tới người Tây tạng. Hội Liên Hữu Truyền Giáo Hải Ngoại (Overseas Missionary Fellowship) gồm những chuyên gia về Phật Giáo và sẵn sàng mở các lớp huấn luyện, trình bày cho các tín đồ Thiên Chúa Giáo cách làm việc có hiệu quả trong thế giới Phật Giáo. 

Trung Tâm Phật Học Bình Minh (Sunrise Centre for Buddhist Studies) và Mạng Lưới Nam Á (South Asia Network) là những cộng đồng trên mạng cung cấp cho các nhà truyền giáo các tin tức đầy đủ chi tiết, chính xác và mới nhất để cải đạo các người theo đạo Phật.

Đừng hiểu lầm rằng đây chỉ là những nhóm nhỏ, lẻ tẻ. Các tổ chức này rất lớn, có nhiều tiền, được quản trị tốt, và có nhiều nhân viên tận tụy và hăng say với công việc. 

Cuốn sách có tựa đề “Các Dân Tộc trong Thế Giới Phật Giáo” (Peoples of the Buddhist World, Piquant Editions, Carlisle, 2004) được xuất bản bởi Paul Hattaway là một trong những người lãnh đạo cuộc tấn công Phật Giáo mới này.

Cuốn sách dày 453 trang, cung cấp đầy đủ cho các nhà truyền giáo hồ sơ về 316 nhóm sắc tộc và thổ ngữ theo Phật Giáo ở châu Á, từ nhóm người Nyenpa ở miền Trung Bhutan đến người  Kui ở miền Bắc Campuchia, từ nhóm Buriats ở miền cực Đông nước Nga đến người Sinhalese ở Tích Lan. 

peoples of the buddhist world

Cuốn sách cho biết chi tiết từng nhóm, số lượng người trong nhóm, có bao nhiêu người theo Phật Giáo, có bao nhiêu người thực sự hiểu biết và thực hành đạo Phật, nói tiếng gì, sức mạnh của họ và cách vượt qua, các điểm yếu của họ và cách lợi dụng họ, tổng quan về lịch sử, văn hoá và những cách cải đạo tốt nhất.

Cuốn sách có đầy các hình màu đẹp về các dân tộc này, mà đa số ít người biết đến. Điều làm chúng ta rất buồn khi nghĩ đến các người hiền lành, vui cười và vô tội này đang ở trong tầm nhắm của các người truyền đạo xảo quyệt đang nhất quyết phá hoại niềm tin và văn hoá cổ truyền của họ. 

Tuy nhiên, cuốn sách của Hattaway cũng hấp dẫn vì cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua cái tâm tính kỳ quặc và gíáo lý không kém kỳ quái của các người truyền đạo Chúa.

Trong lời tựa, Hattaway hỏi “Có làm Chúa thất vọng không khi ngày nay có hàng trăm triệu Phật tử đang đi vào địa ngục mà không được Phúc âm chứng nhận? Có làm Đấng Cứu Thế thất vọng không khi hàng triệu người đang thờ cúng các thần tượng chết cứng thay vì Đức Chúa Cha vẻ vang trên trời?”

Không có gì lạ khi thấy các người truyền đạo luôn luôn giận dữ và tự vệ, rất tự kỷ và đầy lo lắng. Hàng ngày họ phải sống với niềm tin đầy mâu thuẫn, Chúa của họ đầy tình thương nhưng cũng ném người vào lửa địa ngục bất tận, ngay cả những người chưa bao giờ nghe đến Chúa. 

Đây là một sự căng thẳng có thật. Giống như một người cứ bơm mãi không khí vào một trái banh bị xì hơi để làm nó tiếp tục căng, họ phải tiếp tục cho rằng đạo Phật chỉ là thờ cúng trống không và không có gíá trị trong khi họ biết rõ điều này không đúng với sự thật. Đây cũng là một căng thẳng có thật. 

Trong suốt  cuốn sách, Hattaway đã lập lại những điều dối trá cũ mèm, những xuyên tạc và sự thật nửa chừng mà các người truyền đạo đã dùng trong thế kỷ 19 và các người theo đạo Chúa chân chính đã gạt bỏ hơn trăm năm nay.

Hattaway cho rằng các Phật tử, cũng như các ngoại đạo khác, đang sống một cuộc đời trống rỗng và không có ý nghĩa, và họ đang mong chờ để được nghe Phúc âm của Chúa Jesus Christ. Chẳng ngạc nhiên gì khi các thống kê mà tác giả trình bày cho người đọc không luôn luôn chứng minh được điều này. 

Ông ta cho biết có vài nhóm Phật tử đã bị trải qua nhiều cố gắng cải đạo trong nhiều năm nhưng họ vẫn giữ đạo của họ. Thí dụ, 32 phần trăm dân Kyerung ở Nepal đã được nghe Phúc âm nhưng chỉ vài người “thấu hiểu” được thông điệp của nó. 

Hattaway nói rằng các người Mỹ theo Baptists đã làm việc trong vùng Tovyan ở Miến Điện qua nhiều thập kỷ, nhưng đa số người theo đạo là người Karen. Họ nhận thấy người dân Tovyan hưởng ứng chậm đối với Phúc âm và tình trạng này vẫn tiếp tục cho đến ngày hôm nay.

Các người truyền đạo đã tận tụy làm việc và hy sinh nhiều ở Thái Lan trong vòng 140 năm qua nhưng số người theo đạo Chúa rất ít.

Theo Hattaway, có chừng 2000 người truyền đạo ngoại quốc ở Chiangmai - nhiều hơn số người theo đạo Chúa ở thành phố này.

Thật yên tâm khi biết Thái Lan được các người truyền đạo mệnh danh là “mồ chôn” của họ.  21 phần trăm dân Lao Ga đã được truyền đạo nhưng đạo Chúa chưa đạt được kết quả gì.  42 phần trăm dân Lemo đã được nghe về Jesus nhưng niềm tin vững chãi theo Phật giáo và nền văn hoá cô lập của họ đã ngăn chận việc chấp nhận Phúc âm. 

Dĩ nhiên nền văn hóa cô lập của Hattaway đã không cho ông ta nhận biết rằng các người Lemo này đã không theo đạo Chúa vì đạo Phật cho họ những món bổ dưỡng tinh thần và trí tuệ mà họ đang cần. Do đó ông ta phải giải thích một cách khác vì sao nhiều Phật tử vẫn còn trong thành phần mà ông gọi là “các người chống đối”. 

Theo ông ta, đó là vì lo sợ (trang 217), biếng nhác trí thức (trang 149), tham lam và mù quáng  (trang 172) và dĩ nhiên chống đối của ma quỷ (trang 190). 

Một nguyên nhân khác là mê lầm như trường hợp người Palaung ở miền Bắc Miến Điện đã hoàn toàn sai lầm khi tin rằng họ đã tìm được chân lý nơi đạo Phật (trang 217).

Dĩ nhiên Hattaway cũng đủ xảo quyệt để biết rằng sự bền vững và văn hóa tinh nguyên của các xã hội Phật giáo cổ truyền là những chướng ngại lớn cho công cuộc truyền đạo.

Những nội chiến như ở Tích Lan và Campuchia là những món quà của Chúa dành cho các người truyền đạo. Hattaway gọi sự phá hoại và di đời của dân Loba ở Nepal do các cơn lũ to là một cơ hội mà Chúa ban (trang 168). 

Như đám ruồi nhặng bu quanh một con vật sắp chết, các người truyền đạo bám lấy các cộng đồng đang bị nguy khốn để kiếm cách cải đạo trong khi ngụy trang công việc của họ dưới hình thức cứu giúp và viện trợ nhân đạo. 

Đáng tiếc có nhiều tín đồ Thiên Chúa Giáo chân chính ở phương Tây đã không biết những công tác bí mật này, đã cho tiền World Vision và các hội tương tự dầu các hội này dùng cứu giúp để cải đạo. 

Trong khi nhiều Phật tử đã gạt bỏ lời các người truyền đạo, có những người khác lại nghe theo. 31 phần trăm dân Tamangs ở Nepal giờ đây đã theo đạo Chúa.

Những người truyền đạo Phúc âm đầu tiên đến Mông Cổ vào năm 1990 và trong vài năm họ đã có hàng ngàn người cải đạo, phần chính là giới trẻ.

Sự tăng trưởng kỳ lạ này hiện nay đã chậm lại nhưng số cơ quan truyền đạo đang hoạt động trong nước đã gia tăng rất nhiều và cho đến nay hầu như vẫn chưa có sách Phật Giáo bằng tiếng Mông Cổ.

Ở Tàu hiện nay, Thiên Chúa Giáo gia tăng mau chóng đến độ không kịp xây các nhà thờ để chứa các người mới cải đạo. Các dân tộc hiền hòa ở miền núi Thái Lan và Lào đang trở thành con mồi, từng nhóm từng nhóm, cho các người truyền đạo.

Các thành công này cũng như  nhiều thành công khác đã không phải vì các người truyền đạo không có lương tâm và ngoan cố nhưng vì các Phật tử đã không quan tâm, chậm thấy nguy cơ và lại còn chậm hơn nữa để đối kháng lại một cách có hiệu quả.

Ở Thái Lan, hàng triệu đồng được chi tiêu cho những buổi lễ hoành tráng, những tượng Phật to lớn và vàng lá để che đắp các tháp nhưng hầu như không có ngân khoản gì cho văn hoá Phật Giáo, giảng dạy giáo lý và dịch vụ  xã hội cho các sắc tộc miền núi. 

Một cơ hội mà Chúa ban cho các nhà truyền đạo là thái độ yếu đuối trong đa phần Tăng đoàn. Một trong những phần cuốn sách có nhiều hé lộ (về trí lực của các người truyền giáo và các tu sĩ Phật Giáo) và đáng lo nhất là đoạn Bryan Lurry kể chuyện ông ta đã từng ở bốn tháng tại một Thiền viện của người Shan ở miền Đông Bắc Miến Điện. Ông ta đã ở đấy để thăm dò cách cải đạo các tu sĩ và đã rời Thiền viện với hy vọng tràn trề.

Tôi lo sợ là sự lạc quan của ông ta không phải là hoàn toàn sai. Vị Trụ Trì nơi Lurry ở đã cho phép ông ta dạy tiếng Anh cho các tu sĩ (dĩ nhiên là dùng Kinh Thánh làm tài liệu học tập), chiếu một cuốn phim về đời Christ và sau đó có những lớp giảng thường xuyên về Thánh Kinh cho các tu sĩ. Các tu sĩ  ở Tây phương có thể cho đó là một thí dụ của lòng khoan dung của Phật giáo, tuy không đúng chỗ.

Tôi nghi là do sự thiếu hiểu biết và thờ ơ đối với mọi sự việc không gây xáo trộn hay trái ngược với các cách hành xử cổ truyền thường thấy trong đa phần Tăng đoàn.

Một phần trong chiến thuật dùng để tìm hiểu suy tư của các tu sĩ, Lurry đã hỏi “những người bạn” một số câu hỏi. Với câu hỏi “Giáo điều Phật giáo nào khó tuân theo nhất?”, vài tu sĩ đã trả lời là không được ăn sau 12 giờ trưa, không được uống rượu và một tu sĩ đã trả lời là khó đạt được Niết bàn. 

Với câu hỏi “Nếu có thể thay đổi một điều ngay chính bản thân, đó là điều gì?” Các câu trả lời gồm có mạnh hơn, cao hơn, thay hình dáng lỗ mũi và có da trắng hơn. Khi hỏi tại sao đi tu, không một tu sĩ nói là vì thích Phật Pháp, ngồi thiền hay đời sống tu sĩ nói chung. Thường xảy ra trong thế giới Phật giáo, có thể họ đi tu vì đó là truyền thống buộc họ làm vậy.

Khi Lurry hỏi các tu sĩ có bao giở muốn bỏ tu không thì họ cho biết muốn rời Thiền viện để làm lính trong quân đội dành độc lập cho người Shan … Họ không thấy một mâu thuẫn nào khi biết rằng một tu sĩ không được giết một con muỗi, huồng gì là một người khác.

Lurry thú nhận là đã rất ngạc nhiên vì rất ít câu trả lời mà ông ta đã nhận được cho thấy sự hiểu biết thâm sâu về Phật Giáo hay một lòng mộ đạo chân thành.

Sau tám năm sống ở các tu viện tại Thái Lan, tôi buồn mà nói rằng các câu trả lời của các tu sĩ kia đã không làm tôi ngạc nhiên chút nào. Hiện nay thường thường trong đời sống của một vị tu sĩ Phật Giáo chỉ cần học đóng trò, chấp nhận không suy nghĩ các niềm tin truyền thống, những nghi lễ dài bất tận và làm tê đầu óc, dự các buổi phát chẩn và ngủ những giấc dài. 

Rất may có nhiều cộng đồng Phật giáo đã chống lại công tác của các nguời truyền đạo nhưng với trình độ giáo dục tôn giáo thấp và thiếu hướng dẫn từ một Tăng đoàn thụ động, thử hỏi họ sẽ còn có thể chống bao lâu nữa?

Phải làm một cái gì và phải làm gấp. 

Một lời vu khống khác cũ mèm của các người truyền đạo và được lập đi lập lại trong suốt cuốn sách của Hattaway là các Phật tử sống trong sự sợ hãi ma quỷ triền miên. Lời buộc tội này hơi khôi hài vì các người truyền bá Thiên Chúa Giáo thường đổ tội hết cho Satan và bè lũ những gì mà họ không thích.

Lurry nói về kinh nghiệm của chính mình, “Tôi phải thú nhận là các chùa làm tôi sợ hãi. Tôi thấy có nhiều vật làm tôi không muốn vào. Ở một vài chùa có những tượng trông dữ tợn của những con thú có nanh dài và móng nhọn gác cổng chùa.

Gác đại điện của nhiều chùa là hai tượng rồng lớn với nhiều đầu ở hai bên cầu thang … Nếu các hình tượng này còn ở ngoài chùa, tôi sẽ còn thấy gì ở trong chùa nữa? Tôi cứ tưởng là các con vật này sẽ sống lại và cố hại tôi “(trang 234).

Tôi có thể hiểu được những người giản dị và thường mù chữ  ở các bộ lạc miền núi hoang dã ở Miến Điện có thể sợ các con ma ác độc. Nhưng ông Lurry đã tốt nghiệp trường Đại học Bắc Texas (University of North Texas) mà lại sợ một ít xi-măng và thạch cao được sơn phết để trang trí các chùa Phật Giáo. Thật là quá dễ hù dọa các người truyền đạo Chúa! 

Chín trang trong cuốn sách “Các Dân Tộc trong Thế Giới Phật Giáo” (Peoples of the Buddhist World) đã dành cho dân Sinhalese là những thổ dân của Tích Lan và từ lâu một mục tiêu của các người truyền đạo.

Dầu có gần 500 năm gần gũi với đạo Chúa, nhưng chỉ có 4 phần trăm theo đạo Chúa mặc dù có nhiều giai đoạn mà tôn giáo của họ đã gặp nhiều bất lợi và bị ngược đãi. Điều này làm các người truyền đạo bối rối và tức giận vì họ chỉ đạt được thành công nhỏ bé trên đảo trung thành với đạo Phật này.

Từ cuối thập niên 1950 Gíáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã ở Tích Lan đã ngầm chấp nhận địa vị thiểu số của mình và đa phần đã có thái độ sống chung với Phật Giáo. Giáo hội vẫn tiếp tục các nỗ lực cải đạo nhưng ít sôi nỗi và lễ phép hơn. 

Nhưng kể từ thập niên 1990, nhiều tổ chức truyền đạo Tin lành đã tràn ngập Tích Lan và họ có thái độ “không xin, không cho”. Cho đến nay đối tượng cải đạo đa phần là tín đồ Giáo hội La Mã, làm Giáo hội kinh ngạc, nhưng mục tiêu chính vẫn là các Phật tử. Các tu sĩ Phật giáo đang kêu gọi chính quyền ban hành luật cấm cải đạo.

Nhưng đây có phải là giải pháp tốt nhất không?

Ta có thể hiểu được việc dân Sinhalese không thích tôn giáo của họ được gọi là thờ cúng ma quỷ Satan, nhất là các người ngoại quốc kể cả các nhà truyền đạo trong nước.

Cách đây vài năm, một cao tăng người Sinhalese rất được kính trọng qua đời và quần chúng Phật tử đã thật sự tiếc thương vị sư này. Chính trong thời gian tang lễ của vị sư này, người lãnh đạo một nhà thờ ở ngoại ô Colombo đã đốt pháo, một cách thường dùng để ăn mừng ở Tích Lan. 

Lẽ dĩ nhiên, các Phật tử ở quanh nhà thờ này đã rất bực mình, không có bạo động xảy ra nhưng có nhiều lời giận dữ đã được trao đổi. Tôi vô tình chứng kiến cảnh các người dân địa phương đối diện với người lãnh đạo nhà thờ này. Ông ta khẳng định là việc đốt pháo không liên quan đến tang lễ của vị sư nhưng ông đã không có một lý do thuyết phục vì sao ông lại đốt pháo. 

Trong suốt cuộc gặp với các láng giềng, ông đã tỏ ra trân tráo, không xin lỗi vì các hành động của mình, và xem thường các nỗi đau của quần chúng. Tôi chỉ biết nói rằng ông ta cho tôi cảm tưởng rõ rệt là ông ta muốn bị cư xử thô bạo hay bị đánh đập để ông ta có quyền có một danh vị mà tất cả các người truyền đạo đều mong muốn – đó là thánh tử đạo đã hy sinh cho Chúa Trời.

Cuốn sách của Hattaway nêu rõ các vụ xô xát bạo động chống lại người theo đạo Chúa ở Tích Lan và các nơi khác và các viêc này đã xảy ra thuờng xuyên hơn. Tuy nhiên, tác gíả đã không nói rõ là chỉ có những người truyền đạo Tin lành, chứ không phải Thiên Chúa Giáo La Mã hay các tín đồ đạo Chúa chân chính, đã gây nên các phản ứng tiêu cực như vậy.

Và lẽ dĩ nhiên ông ta cũng không nói lý do vì sao đôi lúc quần chúng nổi giận với các người truyền giáo Phúc âm. Thật sự nguyên nhân các vụ bạo động là vì tính huênh hoang bất lịch sự của các người này và họ hoàn toàn không có ý thức gì về các niềm tin tôn giáo của người khác. Đây không phải biện hộ cho bạo động mà chỉ cố gắng giải thích vì sao bạo động xảy ra mà thôi.

Thật sự cũng có vài người truyền giáo quá khích đã cố ý gây ra những vụ chạm trán. Tôi có đọc hai bài luận văn về cách truyền giáo từ Tích Lan - một bài nhấn mạnh rằng các thôn làng phải trở thành “bãi chiến trường cho linh hồn”  và bài kia nói rằng các tín đồ đạo Chúa “phải đối diện với những người không được cứu rỗi, nếu cần dùng cả vũ lực để bắt họ phải quyết định”.

Đoạn về Tích Lan trong sách của Hattaway được viết bởi Tilak Rupasinghe và Vijaya Karunaratna, hai người truyền giáo nổi tiếng. Họ rất vui nêu rõ các tai họa của Tích Lan - nội chiến, tỷ lệ tự tử cao, tham nhũng, nổi loạn – và dĩ nhiên cho rằng đây là thêm những bằng chứng Phật Giáo đã sai lầm. 

Rồi họ bạo dạn cho rằng “Ở Chúa mới chữa lành những vết thương do bất công, đàn áp và căm thù sắc tộc …Ở Chúa mới có hy vọng cứu nước, lãnh thổ, ngôn ngữ, văn hoá và dân tộc”.

Đây là một hứa hẹn hấp dẩn mà vài người có thể muốn nghe. Nhưng dĩ nhiên đây là lời hứa cũ mèm rỗng tuếch mà các người truyền giáo luôn luôn hứa ở những nơi mà họ đang cố gắng cải đạo: “Đất nước của các người lộn xộn quá! Các thần linh của các người đã thất bại. Hãy chấp nhận Jesus Christ và mọi việc sẽ tốt đẹp”.

Nhưng có thật đạo Chúa có thể giải quyết các vấn đề xã hội tốt hơn không? Bằng chứng cho việc này rất mong manh. Đạo Chúa đã thất bại hoàn toàn trong việc đem lại hòa bình cho Bắc Ái Nhĩ Lan. Trên thực tế đạo Chúa là nguyên nhân chính của vấn đề. Truyền thống đạo Chúa La-mã và Tin lành lâu đời ở nước Đức đã không ngăn được chủ nghĩa Quốc xã bám trụ ở đó.

Giáo hội Cải cách Hòa Lan (Dutch Reformed Church) ở Nam Phi đã ủng hộ mạnh mẽ chính sách kỳ thị chủng tộc với tất cả các vụ áp bức và tàn ác.

Đạo Chúa Phúc Âm rất thịnh hành ở miền Nam nước Mỹ - vùng này được gọi là “Vành đai Thánh Kinh” – và việc này đã không ngăn được nó thành vùng nghèo nhất và kỳ thị da màu nhất nước Mỹ. Và sự phân biệt chủng tộc ở miền Nam biểu lộ rõ ràng nhất vào mỗi buổi sáng Chủ Nhật khi các người da trắng và da đen vẫn còn đi nhà thờ riêng biệt; “Ngợi khen Chúa nhưng thờ phụng Ngài ở trong nhà thờ riêng của các người!”

Cuốn sách của Hattaway ít nhất cũng là một cuộc đánh thức cho tất cả Phật tử chúng ta. Nếu chúng ta không cải tổ Tăng đoàn, không tổ chức tốt hơn và không cố gắng hơn để hiểu biết và áp dụng tôn giáo của chúng ta, thì Ánh Sáng của Á Châu sẽ bị dập tắt.

Trúc-Lâm Yên-Tử @  Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam

Đang xem báo Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam

Flag Counter