lịch sử việt nam

Trang Chính

Bản Lên Tiếng Của Thư Viện Hoa Sen:

Bưu-Hoa Tem Thư Việt-Nam Cộng-Hòa:

Biển Cả Và Con Người:

Blogs (Bản Tin các Blogs;  Blog Ba Sàm; Blog Cầu Nhật-Tân; Blog Chu-Mộng-Long; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo; Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Diễn-Đàn Công-Nhân; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Huỳnh-Ngọc-Chênh; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào; Blog Quê Choa VN; )

Chết Bởi Trung Cộng

Lịch Sử Trung Cộng Cướp Nước Việt-Nam

Những Sự Thật Cần Được Biết Về Sinh-Hoạt Cộng Đồng Việt-Nam

Những Sự Thật Lịch-Sử Cần Phải Biết Về Lịch-Sử Và Phật Giáo Việt Nam

Pháp Luân Đại Pháp Cứu Độ Chúng Sanh

Sitemap

 

 

Những Sự Thật Cần Phải Biết Về Lịch-Sử Và Phật-Giáo Việt-Nam

thư viện hoa sen, hoa sen, hoasen, hoa sen xanh, nhân bản, từ bi, trung thực, trong trắng

Đừng Im Tiếng – Mà Phải Lên Tiếng

 

Những Sự Thật Cần Phải Biết (Phần Thứ 13) Phản Đối Bài Viết Của VOA Không Phản Ảnh Sự-Thật Lịch-Sử Việt-Nam

thích quảng đức tự thiêu? self immolation?

slef immolation, hòa thượng thích quảng đức, có tự thiêu hay không? non, nein, non, không phải, thầy bị việt cộng, cia và giáo hội phật giáo việt nam thống nhất giết chết

Kính gởi ban Việt ngữ đài tiếng nói Hoa-Kỳ,

Việc quý ban biên tập đăng tải bài “Sự kiện Hòa thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu: 50 năm nhìn lại” hoàn toàn không đúng với lịch-sử Việt-Nam.

http://www.voatiengviet.com/content/su-kien-thich-quang-duc-tu-thieu-50-nam-nhin-lai/1679006.html

Qua bản Phúc Trình Của Liên Hiệp Quốc liên quan đến vấn đề tôn giáo tại Việt-Nam năm 1963, tổ chức này nhận định là không hề có bất cứ sự đàn áp hay kỳ thị nào đối với Phật giáo Việt-Nam.

Những vụ được gọi là tự-thiêu đều là những sự sắp xếp, dàn cảnh, ép buộc các nạn nhân do Giáo hội Phật giáo Việt-Nam Thống Nhất (tiền thân là Tổng hội Phật giáo Việt Nam) thực hiện. Đương cử trường hợp thầy Thích Quảng-Đức. Thầy không hề muốn tự-thiêu thế mà vẫn bị các vị Trí-Quang và Đức-Nghiệp ép phải chết. Do đó, cố tổng-thống Ngô-Đình-Diệm gọi đây là án-mạng.

Do đó, để rộng đường dư luận, xin quý ban biên tập vui lòng đăng tải bốn bài viết sau cho độc giả được tham tường.

Đồng thời chúng tôi xin gởi lời cám ơn quý ban ban tập đã thực hiện và cung cấp cho độc giả khắp nơi những bài viết, bản tin có giá trị.

Cầu chúc quý ban biên tập vững tiến trong công tác truyền thông với tinh thần trong sáng và vô tư.

Chúng tôi kêu gọi người Việt trong và ngoài nước quan tâm đến sự thật lịch-sử Việt-Nam liên quan đến án-mạng giết chết thầy Thích Quảng-Đức hãy đồng tình với chúng tôi và gởi lá thư này đến ban biên Việt ngữ đài tiếng nói Hoa-Kỳ.

Âu-Châu ngày 11-06-2013, Việt lịch 4892, Phật lịch 2557

Trúc-Lâm Nguyễn-việt phúc-Lộc, tổng thư ký Hội Sử-Học Việt-Nam

Bài viết đính kèm:

1/ Hậu duệ VNCH khẩn thiết cảnh báo: Chiến dịch dùng Thích Quảng Đức để đấu tố VNCH

 

2/ Liên-Thành | 'Ba điều không thể che giấu mãi đó là: Mặt Trời, Mặt Trăng, và Sự Thật' - Lời của Đức Phật

Yêu cầu ông Thích Quảng Độ, Đại diện Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Ông Võ Văn Ái Phát Ngôn Nhân Viện Hóa Đạo PGVNTN, và Bà Ỷ Lan, Tổng Ủy Viên Đặc Trách Liên Lạc Quốc Tế PGVNTN, hãy chấm dứt ngay hành động đấu tố Việt Nam Cộng Hòa bằng vụ Án-Mạng do Thích Trí Quang và cộng sản gây ra qua vụ nướng sống Hòa Thượng Thích Quảng Đức ngày 11/6/1963.  Xin hãy đọc bản phúc trình của Phái Đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc liên quan đến việc tố giác Tổng thống Ngô Đình Diệm đàn áp Phật Giáo của hội Phật Giáo Việt Nam.

Liên Thành 
Cựu Chỉ huy trưởng Cảnh Sát Quốc Gia/Việt Nam Cộng Hòa, Thừa Thiên Huế

BẢN PHÚC TRÌNH CUỘC ĐIỀU TRA CỦA PHÁI ĐOÀN LIÊN HIỆP QUỐC VỀ VẤN ĐỀ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ CHÍNH PHỦ CỦA ÔNG CÓ ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO HAY KHÔNG

Report of the United Nations Fact-finding mission to South Vietnam Published by The Committee of Judiciary United States, 88th Congress, 2nd Sessions. US Government Printing Office, 1964.

Sự việc khởi đầu khi một số quốc gia Hội viên Liên Hiệp Quốc nhận được những báo cáo của vị Đại Sứ Gunewardene, Tích Lan, nói rằng: Đã có vấn đề đàn áp Phật Giáo tại Việt Nam, nên số quốc gia nầy yêu cầu đưa vấn đề đàn áp Phật Giáo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vào chương trình nghị sự của Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 chưa có tư cách hội viên, mà chỉ được có tư cách là Quan Sát Viên Thường Trực mà thôi. Ngay khi được tin Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc sẽ đưa vấn đề đàn áp Phật Giáo vào chương trình nghị sự, thì Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa đã chỉ thị cho vị đại diện của Việt Nam Cộng Hòa tại 5 quốc gia ở Phi Châu, bác học Bửu Hội, tiếp xúc với Hội Đồng để giải quyết vấn đề này.

Trước Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, Đại Sứ Bửu Hội tuyên bố: Việt Nam Cộng Hòa có chủ quyền nên không chấp nhận bất kỳ một phái đoàn nào của ngoại quốc đến điều tra hay can thiệp vào nội tình của Việt Nam Cộng Hòa, tuy nhiên, để làm sáng tỏ vấn đề chính phủ Việt Nam Cộng Hòa có đàn áp Phật Giáo hay không, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa chính thức mời một phái đoàn của Liên Hiệp Quốc sang tìm hiểu tình hình Phật Giáo tại Việt Nam. Để được vô tư và minh bạch trong vấn đề tìm hiểu điều tra Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa cam đoan thi hành những điều sau đây: 
1)- Việt Nam Cộng Hòa bảo đảm phái đoàn điều tra của Liên Hiệp Quốc rằng, họ có thể đi khắp mọi nơi, bất cứ nơi nào mà họ muốn. Họ có thể thăm hỏi, phỏng vấn, điều tra bất kỳ một ai nếu họ muốn, ngay cả những vị sư sãi, và một số thành phần dân sự hiện đang bị Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa tạm giữ để điều tra vì can tội phá rối trị an.

2)- Chính quyền Việt
Nam Cộng Hòa sẽ trịnh trọng chấp nhận kết luận và lời khuyến cáo của phái đoàn, và nếu có lỗi, sẽ đồng ý sửa sai những lỗi lầm đó.

Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chấp nhận lời mời của Đại sứ Bửu Hội. Ngày 24 tháng 10 năm 1963 một phái đoàn điều tra của Liên Hiệp Quốc gồm đại diện các quốc gia như Afghaniatan, Brazil, Costa Rica, Nepal Ceylon, Dahomey đến Sài Gòn để điều tra sự việc. Tại Sài Gòn, phái đoàn Liên Hiệp Quốc đã mở cuộc họp báo và họ tuyên bố với báo chí Việt Nam và quốc tế rằng: Phái đoàn sẽ điều tra tại chỗ, nghe ngóng, tiếp xúc, phỏng vấn và tiếp nhận thỉnh nguyện thư để tìm sự thật và báo cáo các sự kiện lên Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc.

Hai ngày đầu Phái đoàn gặp các viên chức chính quyền như ông Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Bùi văn Lương, ông Đại Biểu Chính Phủ Tại Trung Nguyên Trung Phần, ông Tỉnh trưởng Tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế, và nhiều giới chức khác. Phái đoàn cũng đã đi thăm 3 chùa và gặp đại diện Phật giáo. Sau đó phái đoàn tự ý chủ động thực hiện cuộc điều tra. Phái đoàn đã tự do đến nơi giam giữ các các tu sĩ Phật giáo, các thành phần dân sự như học sinh, sinh viên, thành phần trí thức.

Phái đoàn cũng đi ra Huế đến chùa Từ Đàm và các chùa khác gặp rất nhiều các tu sĩ Phật giáo và Phật tử, ngoại trừ Thích Trí Quang hiện đang trốn tránh trong tòa Đại Sứ Mỹ, mặc đầu có lời yêu cầu của Đại Sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge nhưng phái đoàn vẫn từ chối không tiếp xúc với Thích Trí Quang.

Ngay cả phía Hoa Kỳ, chính Đại Sứ Cabot Lodge trong bản phúc trình của ông ta gởi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng phải xác nhận rằng: Chính quyền Nam Việt Nam đối xử rất đàng hoàng với phái đoàn điều tra của Liên Hiệp Quốc, chính phủ Nam Việt Nam đã cho phép phái đoàn gặp mọi người kể cả các tu sĩ phật giáo đang bị giam giữ.

PHÁI ĐOÀN ĐIỀU TRA LIÊN HIỆP QUỐC TIẾP XÚC VÀ PHỎNG VẤN NHỮNG NGƯỜI TỐ CÁO TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ CHÍNH PHỦ CỦA ÔNG ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO

Có hai thành phần tố cáo Tổng Thống Ngô Đình Diệm và chính phủ của ông ta đàn áp Phật Giáo đã được Phái Đoàn điều tra của Liên Hiệp Quốc tiếp xúc, phỏng vấn gồm có:
1- Các tu sĩ trong hàng ngũ Phật Giáo
Hoà Thượng Hội Chủ Thích Tịnh Khiết. Thích Hộ Giác. Thích Thiện Minh. Thích Đôn Hậu. Thích Tâm Châu. Thích Thiện Hoa. Thích Huyền Quang. Thích Đức Nghiệp. Thích Mật Nguyện. Thích Thiện Siêu. Thích Quảng Liên. Thích Chánh Lạc. Thích Quảng Độ. Thích Chánh Lạc. Thich Giác Đức. Thích Thể Tịnh. Thích Thiên Thăng. Thích Tâm Giao. Ni cô Nguyễn Thị Lợi. Ni cô Tịnh Bích. Ni cô Diệu Khuê. Ni cô Diệu Không, Pháp Tri. Ông Mai Thọ Truyền.

2) Các giáo sư Đại Học Huế, Sài Gòn, trí thức khoa bảng, chính trị gia, sinh viên học sinh
Giáo sư Bùi Tường Huân, Khoa Trưởng Đại Học Luật Khoa Huế, bác sĩ Lê Khắc Quyến, Khoa Trưởng Đại Học Y khoa Huế, kiêm Giám Đốc Bệnh Viện Trung Ương Huế, giáo sư Nghiêm Xuân Thiện, ông Trần Quốc Bửu, ông Trần văn Đỗ, ông Phan Huy Quát, ông Lê Quang Luật, ông Hồ Hữu Tường.

Bên cạnh đó, phái đoàn Liên Hiệp Quốc cũng đã tiếp xúc với một số người đã báo cáo rằng họ bị bắt giam, bị đánh đập, bị thương, hay thân nhân của những người báo cáo đã bị giết chết, các người chuẩn bị tự thiêu, các sinh viên và phật tử bị bắt v.v…
KẾT QUẢ VẤN ĐỀ ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO BẢN PHÚC TRÌNH CỦA ỦY BAN ĐIỀU TRA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ VẤN ĐỀ KỲ THỊ, ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO CỦA TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA

Sau một thời gian 2 tuần điều tra, phái đoàn điều tra của Liên Hiệp Quốc đã phúc trình với kết luận như sau:

1)- Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã tận tình hợp tác với phái đoàn, phái đoàn có thể đi bất cứ nơi đâu mà họ muốn. Phái đoàn cũng đã tiếp xúc và lấy lời khai tất cả các nhân chứng mà họ thấy cần thiết.

2)- Đây là lần đầu tiên mà Liên Hiệp Quốc thực hiện một cuộc điều tra tại chổ về một chính phủ bị tố cáo vi phạm nhân quyền, nhưng không phải là do yêu cầu của Liên Hiệp Quốc, mà lại do lời mời của chính phủ đó.

3)- Chính phủ của Tổng Thống Diệm đã tạo cho phái đoàn điều tra một cảm tưởng rằng chính phủ sẵn sàng sửa chữa những sai lầm nếu đã phạm phải, cũng như chính phủ của Tổng Thống Diệm tin chắc rằng những sự kiện căn bản sẽ chứng minh rằng chính phủ không có lỗi.


4- Ông Đại Sứ Volio phái đoàn điều tra của Liên Hiệp Quốc đã kể lại một số chi tiết khi nghe lời khai của một người dự định tình nguyện tự vận bằng cách tự thiêu như sau: 

“Có một vị sư trẻ mới 19 tuổi, khai với phái đoàn điều tra rằng, ông ta được một số sư sãi khuyến khích tự thiêu vì Hòa Thượng Hội Chủ Phật Giáo Thích Tịnh Khiết đã bị giết, hằng trăm Phật tử đã bị chính quyền dìm chết dưới sông Sài gòn, nhiều ni cô đã bị mổ bụng, và chùa Xá Lợi đã bị đốt cháy. Nhà sư 19 tuổi nầy được yêu cầu tình nguyện hy sinh tự vận vì Phật giáo, và được bảo đảm rằng ông ta sẽ được cho uống thuốc để không bị đau đớn, ngoài ra ông ta cũng được đưa 3 bức thư tuyệt mệnh đã được viết sẵn để cho ông ta ký vào. Ông ta bị cảnh sát bắt, ngăn chận cuộc tự thiêu của ông ta và cũng là kịp lúc nhà sư trẻ 19 tuổi nầy biết được những gì mà ông ta đã nghe các nhà sư kia kể cho ông chỉ là những chuyện láo khoét bịa đặt, độc ác và hoàn toàn thất thiệt. Tất cả chỉ là để kích động ông mà thôi.”

5)- Phái Đoàn cũng đã tìm gặp được một số nhà sư lãnh đạo Phật Giáo và thanh niên phật tử mà theo những báo cáo trước đây mà phái đoàn đã nhận được rằng những người nầy đã bị chính quyền của Tổng Thống Diệm giết chết, nay hóa ra đó chỉ là những báo cáo khống, không đúng sự thật.

6)- Phái Đoàn không tìm thấy bằng chứng nào xác nhận những báo cáo đã dược công bố nói rằng, có những nhà sư đã bị ném từ trên các tầng lầu cao xuống đất vào đêm Thiết quân luật 20/8/1963 khi lực lượng quân đội của chính quyền Tổng Thống Diệm mở cuộc hành quân lục soát chùa Xá Lợi.

7)- Thượng Nghị Sĩ Thomas J. Dold cũng gởi những báo cáo lên Thượng Nghị Sĩ James E. Eastland Chủ Tịch Nội An Thượng Viện ngày 17 tháng 2 năm 1964 những tin tức mà ông ta đã nhận được:

"Chúng ta đã nhận được những báo cáo rằng, chính phủ Diệm đã khủng bố tôn giáo một cách tàn nhẫn đến nỗi những người vô tội đã bị dồn vào thế phải tự vận để phản đối. Nhưng nay ta thấy sự thật không phải như vậy, mà sự thật là không hề có vấn đề khủng bố ai cả, và cuộc khuấy động nầy căn bản mang tính cách chính trị”.

Ngoài ra, Lời tuyên bố của Thượng Nghị Sĩ Thomas J. Dold như sau: 

"Những lời buộc tội chế độ Diệm tại Liên Hiệp Quốc không có căn bản, và không chấp nhận được." Theo ông ta, "những tài liệu tố cáo chất đống, quá nhiều, nhưng tất cả đều không chứng minh được đã có sự kỳ thị tôn giáo hay xâm phạm tự do tôn giáo”.

Tóm lại Bản Phúc Trình của Liên Hiệp Quốc đã chính thức kết luận rằng:

1)- Tại Việt Nam hoàn toàn không có chính sách kỳ thị áp bức hay khủng bố đối với Phật giáo trên căn bản tôn giáo.

2)- Những người khai báo cho phái đoàn biết về vụ nầy thường là chỉ nghe nói lại và trình bày một cách mơ hồ, tổng quát.

3)- Mỗi nhân chứng đều cố gắng tìm một bằng chứng cụ thể để trình với phái đoàn, nhưng rốt cuộc chỉ thấy có một vài hành vi lẻ tẻ, nhỏ nhặt, mang tính cách cá nhân mà thôi.

4)- Vì vậy căn cứ trên những sự kiện, bằng chứng đưa ra từ các người được phái đoàn phỏng vấn, phái đoàn đi đến kết luận rằng: Tổng thống Ngô Đình Diệm và chính quyền của ông ta không chủ trương chính sách chống Phật Giáo vì lý do tôn giáo.

Chính Dân Biểu Sablocki của Đảng Dân Chủ thuộc Tiểu bang Wisconsin, Hoa Kỳ, vào ngày 13 tháng 11 năm 1963 tại Hoa Thịnh Đốn đã tuyên bố rằng:
“Dù rằng vụ đảo chánh đã đem lại một đổi thay cho hiện trạng Việt Nam, thế nhưng bản trường trình của Phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc vẫn có giá trị lịch sử trong việc giải minh vấn đề Phật giáo.”

http://ubtttadcsvn.blogspot.com/2013/06/yeu-cau-ong-thich-quang-o-va-ghpgvntn.html

3/ Vọng ngữ: Con đường giải thoát?

Lữ-Giang

Trong bài “Nghiệp kéo đến như bánh xe lăn…” phổ biến ngày 25.4.2013, chúng tôi có viết rằng từ năm 1963 đến nay, tức trong 50 năm qua, một số người đã nghĩ rằng có thể "cứu" Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang bằng hai cách, cách thứ nhất là đánh phá Công Giáo để đánh lạc hướng dư luận và cách thứ hai là dùng VỌNG NGỮ (Wrong speech) để "hóa giải" hay "giải nghiệp”. Hôm nay chúng tôi thấy cần nói rõ hơn: Mục tiêu của hai chiến thuật đó là gì? Nó đã được theo đuổi trong suốt 50 năm qua và trong tương lai nó sẽ còn được kéo dài đến bao lâu nữa? Xử dụng hai chiến thuật đó có đem lại “con đường giải thoát” cho Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang hay không?

Chúng tôi nghĩ rằng đã đến lúc phải trình bày những vấn đề này một cách thẳng thắn

NHỮNG TÍNH TOÁN SAI LẦM

Ngay từ giai đoạn đầu, khi mới phát động cuộc tranh đấu, cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã báo cáo rằng các nhà lãnh đạo Phật giáo muốn “thiết lập một chế độ giáo quyền lãnh đạo thế quyền ở Nam Việt Nam” (he would like to establish a theocracy in South Vietnam).

[Intelligence Information Cable, TDCS 314/02342-64. Aug. 28, 1964. 8 p.]

Để thực hiện mục tiêu đó, CIA nói rõ:

“Kể từ năm 1963, các Phật Giáo đấu tranh luôn luôn chống lại chế độ hiện hữu tại Nam Việt Nam, rõ ràng là không quan tâm đến các nhân vật hay vấn đề liên hệ.”

[LBJ Library, Mendatory Review, Case # NLJ 92465, Document # 27, p. 9 - 10.]

Nói một cách rõ ràng hơn, theo CIA các nhà lãnh đạo đấu tranh Phật Giáo đã chống lại bất cứ chính phủ nào không phải là Phật Giáo và không do họ lãnh đạo.

Dĩ nhiên, chính phủ Hoa Kỳ, VNCH, CSVN và ngay cả các chính quyền hậu cộng sản, cũng không ai chấp nhận để cho một tôn giáo thực hiện tham vọng về quyền lực chính trị như vậy.

Để thực hiện tham vọng của mình, các nhà lãnh đạo đấu tranh Phật giáo đã xử dụng một thủ đoạn rất nguy hiểm là dùng vọng ngữ kích động lòng hận thù Công Giáo để làm động lực đấu tranh. Tuy nhiên, thủ đoạn này lại có tác dụng hai mặt (ambivalent), một mặt kích động được những Phật tử nhạy cảm đứng lên theo họ, nhưng mặt khác lại phải đối phó cùng một lúc vừa với các chính quyền (Hoa Kỳ, Đệ nhất và Đệ nhị VNCH, và CSVN), vừa với Công Giáo, nên trận nào Phật Giáo cũng bị đánh bại.

Sau khi thua trận, Giáo Hội Ấn Quang đã phải “hóa giải” ba mặc cảm của kẻ thua cuộc:

(1) Bị Mỹ biến thành công cụ lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, xài xong rồi bỏ.

(2) Bị Mỹ bỏ, đi theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, thắng cuộc rồi cũng bị Cộng Sản loại.

(3) Trở về với Mỹ bị biến thành con bài thí, mất gần hết các cơ sở hạ tầng và bị chia rẽ trong nội bộ.

Để “hóa giải” ba mặc cảm đó, một số thành phần trong Giáo Hội đã dùng VỌNG NGỮ một mặt đánh phá Công Giáo và mặt khác, biện minh cho những sai lầm của Giáo Hội.

Trước khi đi sâu vào vấn đề, cần tìm hiểu “VỌNG NGỮ” là gì.

Vọng ngữ là một trong 10 giới trọng của đạo Phật. Kinh bộ nói rõ: "Bốn trọng giới sát, đạo, dâm, vọng (sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối) là giới đoạn đầu, rất nặng, hễ phạm một trong bốn giới ấy, thì tất cả giới xuất gia đều mất".

Thế nào là vọng ngữ? Có rất nhiều kinh Phật giải thích về trọng giới này. Đại Trí Độ Luận của Bồ tát Long Thọ đã nói về vọng ngữ một cách đơn giản và rõ ràng như sau:

“Vọng ngữ là cái tâm không trong sạch, luôn muốn nói dối trá, che giấu sự thật, nói sai sự thật và sinh khẩu nghiệp.”

Vọng ngữ đã được xử dụng như thế nào?

DÙNG VỌNG NGỮ ĐÁNH CÔNG GIÁO

Chiến dịch đánh phá Công Giáo kéo dài từ 1963 đến nay, được diễn biến dưới nhiều hình thức khác nhau, có khi dùng cả vũ lực như trong vụ Thanh Bồ - Đức Lợi năm 1964 hay vụ cướp chính quyền ở miền Trung năm 1966, nhưng đánh bằng vọng ngữ thì có nhiều nhóm, trong đó có hai nhóm đánh phá liên tục, không ngừng nghỉ và có hệ thống, đó là nhóm Đỗ Mậunhóm Giao Điểm.

Đỗ Mậu đã nói về cuộc đấu tranh của Phật Giáo như sau:

“Như đã nói, cuộc đấu tranh của Hòa thượng Huyền Quang ở trong nước sau cuộc biểu tình 24.5.1993, chỉ còn như ngọn đèn le lói để rồi coi như hoàn toàn thất bại… cuộc đấu tranh càng gây thêm chia rẻ trong hàng ngũ Tăng sư và Phật tử trong nước,cuộc đấu tranh chỉ làm lợi cho Thiên chúa giáo và Tin Lành, v.v...”

[Đỗ Mậu, Tâm Thư 1995, tr. 123 – 124]

Trong bài “Tâm tình với lão tướng Đỗ Mậu” đăng trên tờ Phật Giáo Việt Nam số 112, tháng 7 năm 2000, Đỗ Mậu tuyên bố:

“Nếu tôi được gặp quý Thầy như Quảng Độ và Thầy Huyền Quang, tôi muốn nhắc nhở với mấy Thầy là đất nước phải qua giai đoạn Phật Giáo với chính phủ (CSVN) phải bắt tay nhau. Gia Tô chính là kẻ thù chung.”

Giao Điểm đi theo một đường hướng khác. Cuốn “CHRIST IS DEAD - BUDDHA LIVES” (Chúa Kitô Đã Chết - Phật Còn Sống) của John H. Garabedian và Orde Coombs đã được Trần Chung Ngọc và những thành phần thuộc nhóm Giao Điểm hay “vệ tinh” của Giao Điểm coi như đường lối “tác chiến” của họ.

[Trần Chung Ngọc, Phật Giáo – Kitô Giáo Đối Chiếu, Con Đường Chuyển Hóa, sachhien.net]

Điều đáng lưu ý là cả hai nhóm nói trên đều đi theo CSVN. Năm 1995 Đỗ Mậu đã về Việt Nam tuyên truyền cho Cộng Sản và kêu gọi Phật Giáo “bắt tay” với nhà cầm quyền. Còn nhóm Giao Điểm mới đây đã được Bộ Công An chứng nhận là cơ quan “phục vụ cho việc tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta”.

Đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, những đánh phá này không gây ảnh hưởng gì.

Tại Việt Nam, sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam, Phật Giáo là tôn giáo đầu tiên bị quốc doanh hóa, sau đó đến Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài và các Giáo Hội Tin Lành. Trong khi đó nhờ có đức tin vững mạnh, được tổ chức chặt chẽ và lãnh đạo sáng suốt, Giáo Hội Công Giáo VN vẫn đứng vững và ngày càng phát triển.

Mặc dầu có những người như John H. Garabedian và Orde Coombs tuyên bố “Chúa Kitô Đã Chết - Phật Còn Sống”, số người theo Kitô Giáo trên thế giới ngày nay đã lên đến 2,1 tỷ và ngày càng tăng, nhất là tại Phi Châu. Năm 1900, số người theo Kitô giáo tại lục địa này chỉ khoảng 2 triệu, đến năm 2000 đã lên tới 380 triệu. Người ta ước lượng đến năm 2025 số người theo Kitô ở đây sẽ lên đến 633 triệu. Đây là hiện tượng được các nhà phân tích gọi là “The Explosion of Christianity in Africa” (Sự bùng nổ của Kitô giáo tại Phi Châu). Trong khi đó tổng số tín đồ Phật Giáo trên thế giới năm 2012 được ước lượng khoảng 376 triệu.

Sự đánh phá của nhóm Đỗ Mậu hay nhóm Giao Điểm chỉ để che đậy những sai lầm mà Giáo Hội Ấn Quang đã vấp phạm và mặc cảm thua kém chứ chẳng làm rụng được sợi chân lông của ai.

DÙNG VỌNG NGỮ “HÓA GIẢI” VIỆC LÀM CÔNG CỤ CHO MỸ

Mặc dầu đa số các tài liệu liên quan đến các biến cố Phật Giáo từ 1963 đến 1975 đã được công bố gần hết, một số nhân vật hay tổ chức Phật Giáo vẫn dùng số “đồ cổ giả” của họ như “những tài liệu lịch sử” để nói ngược lại và khỏa lấp những sai lầm do Giáo Hội Ấn Quang gây ra!

Nếu đọc hai cuốn “Tiểu truyện tự ghi” và hồi ký “Từ Rạch Cát tới Tòa Đại Sứ Mỹ” của Thiền sư Thích Trí Quang, đọc giả sẽ thấy ông bịa đặt những chuyện khó tưởng tượng nổi, từ chuyện đàn áp Phật Giáo, xét chùa đêm 21.8.1963 đến chuyện ông bị bắt và đi vào Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ… đều được ông viết như chuyện tiếu lâm. Ông có trình độ văn hóa không cao nên viết giấu đầu hở đuôi. Tuy nhiên, cuốn Bạch Thư của Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu đã nói nhiều về ông và Đại Đức Thích Quảng Thành đã gọi ông là “Nhạc Bất Quần”, nên chúng tôi thấy không cần nói thêm ở đây nữa.

Phiên xử Thiếu Tá Đặng Sỹ của Tòa Án Cách Mạng vào tháng 6 năm 1964 đã làm sáng tỏ vụ nổ trước đài phát thanh Huế tối 8.5.1963. Hồ sơ xác định 8 em đã bị chết do một chất nổ hơi cực mạnh. Ủy Viên Chính Phủ cho rằng đó là lựu đạn MK-3, còn luật sư của Đặng Sỹ dẫn chứng tài liệu chứng minh rằng đó có thể là chất TNT hay C-4. Điều nan giải quan trọng là Công Tố Viện đã không thể xác định được người đã ném chất nổ đó là ai và ném theo lệnh của người nào. Ấy thế mà cho đến nay Thiền sư Nhất Hạnh và các sách báo của Phật Giáo Ấn Quang vẫn tiếp tục nhai đi nhai lại: “Xe thiết giáp cán vỡ đầu một thiếu nhi, sọ em nát vụn. Một thiếu nhi khác bị cán mất nữa đầu, và một em khác nữa mất hẵn đầu...”

Vụ “tự thiêu” của Hòa Thượng Quảng Đức cũng đã được đưa ra ánh sáng. Một tài liệu được công bố năm 2000 cho biết William Kohlmann, một nhân viên tình báo Mỹ đang làm việc ở Anh quen biết với Trần Quang Thuận đã được điều động qua Sài Gòn để hướng dẫn Trần Quang Thuận và Đại Đức Thích Đức Nghiệp làm vụ này. Bill Kohlmann kể lại khi mua xăng về đã được khuyến cáo là phải đổ thêm Diesel vào cho cháy chậm lại. Ký giả Malcolm Browne của AP, một nhân viên CIA khác, có nhiệm vụ báo tin cho các ký giả đến đúng lúc để quay phim, chụp hình và gởi đi khắp thế giới. “Ngọn đuốc của CIA” này đã làm chấn động thế giới. Tưởng đây là cách tranh đấu hay nhất, 30 vụ tự thiêu tiếp theo đã được thực hiện, nhưng không có CIA nhúng tay vào nên trở thành tiếng kêu trong sa mạc!

Tài liệu của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho biết sau vụ tự thiêu của Hòa Thượng Quảng Đức, Tướng Trần Thiện Khiêm (một agent của CIA) đã xúi các Tướng Lãnh vào gặp ông Diệm yêu cầu ban hành tình trạng khẩn cấp và xét chùa để ổn định tình hình. Ông Diệm đã trúng kế CIA.

[FRUS, 1961 – 1963, Volume III, tr. 616. Document 275]

Ngày 24.8.1963 Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ra lệnh đảo chánh lật đổ ông Diệm.

Những tài liệu được công bố nói trên cho thấy Phật Giáo đã bị biến thành công cụ của Mỹ.

DÙNG VỌNG NGỮ “HÓA GIẢI” VIỆC LÀM CÔNG CỤ CHO VIỆT CỘNG

1.- Đi theo Mặt Trận GPMN

Trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại không ai mà không biết Thiền sư Nhất Hạnh là một thiền sư vọng ngữ nổi tiếng.

Ngày 1.6.1966 Thiền sư Nhất Hạnh “phát ngôn viên” của Giáo Hội Ấn Quang đã công bố một bản tuyên cáo 5 điểm của Giáo Hội Ấn Quang, có thể tóm lược như sau:

- Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ từ chức.

- Quân đội Mỹ rút lui.

- Ngưng oanh tạc Bắc Việt.

- Ngưng các cuộc hành quân tại miền Nam Việt Nam.

- Mỹ phải giúp lập chính thể dân chủ và tái thiết miền Nam không điều kiện.

Năm điểm đòi hỏi này giống hệt 5 điểm đòi hỏi của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Ngày 2.6.1966 khi được đưa vào trình bày trước Thượng Viện Mỹ ông cũng lặp lại quan điểm đó.

Năm 1967, ông cho xuất bản cuốn “Việt Nam, Lotus in a Sea of Fire, a Buddist Proposal for Peace” (Việt Nam, Hoa Sen trong Biển Lửa, một Đề Nghị Hòa Bình của Phật Giáo) như một bản cáo trạng lên án Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa vi phạm tội ác chiến tranh.

Lời tuyên bố của Thiền sư Nhất Hạnh vào tối 25.9.2001 tại thánh đường Riverside ở New York về việc Mỹ oanh tạc Bến Tre được coi là đỉnh cao của vọng ngữ, ít ai có thể tưởng tượng nổi.

Với những lời tuyên bố nói trên, ông đã cố gắng “biện minh” tại sao Phật Giáo đã đi theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nhưng ông đã đi từ sự dối trá này tới sự dối trá khác.

2.- Đưa ra ngụy chứng để “hóa giải”

Chúng ta nhớ lại, trong Đại lễ kỷ niệm 30 năm Giáo Hội Ấn Quang “vận động cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ” được tổ chức tại chùa Diệu Pháp ở Los Angeles hôm 18.12.2005, Hòa Thượng Thích Hộ Giác, lúc đó là Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo, kiêm Chủ tịch Hội đồng Điều hành, đã đọc diễn văn khai mạc cho rằng sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam, Giáo Hội Ấn Quang là tổ chức đã đứng lên chống lại trước nhất. Hòa Thượng tuyên bố:

Giáo hội đã lên tiếng thật sớm, ngay từ những ngày đầu sau 30.4.1975 về những đàn áp bất công đối với tôn giáo và dân chúng. Đó là thời điểm mà khí thế và uy quyền tuyệt đối của kẻ thắng trận phủ ngợp lấy Việt Nam…

"Tổ chức lễ kỷ niệm này, chúng ta hãy trang trọng trao cho thế hệ mai hậu những trang sử bi hùng của những người Phật tử, những người con Việt, không vì bạo tàn mà khuất phục, không vì yên ấm bản thân mà quên đi nỗi khổ của giống nòi…”

Sự thật như thế nào?

Như chúng tôi đã trình bày trong bài “Nghiệp kéo đến như bánh xe lăn…”, sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam, Giáo Hội Ấn Quang đã coi chiến thắng của Cộng Sản như chiến thắng của mình, tổ chức “mừng giải phóng” và sinh nhật “Bác Hồ”, tuyên bố “Cuộc đấu tranh của Phật Giáo cho nền thống nhất tổ quốc cùng là một với cuộc đấu tranh vì CHỦ NGHĨA XÃ HỘI”… Cho đến khi Giáo Hội để lộ tham vọng muốn thống lãnh Phật Giáo Việt Nam, Cộng Sản mới loại ra. Tài liệu rõ ràng như thế mà Hòa Thượng Hộ Giác còn dám nói ngược như trên! Nếu những trang sử bi thảm này được “trang trọng trao cho thế hệ mai hậu” thì tiền đồ của đất nước và của Phật Giáo Việt Nam sẽ đi về đâu?

GIẢI THOÁT HAY NGHIỆP BÁO?

Phật giáo khi truyền vào Trung Hoa và Việt Nam cũng đã phải trải qua nhiều Pháp nạn khắc nghiệt. Ở Việt Nam, Pháp nạn khắc nghiệt nhất đã xảy ra dưới thời Quang Trung Nguyễn Huệ. Để có tài nguyên chống xâm lăng, Nguyễn Huệ đã ra lệnh “làm cỏ” Phật giáo từ Thừa Thiên ra Bắc. Các chùa đều bị phá sập, chuông chùa và tượng Phật bị đem ra nấu đúc khí giới hay nông cụ, các tăng sĩ dưới 50 tuổi phải nhập ngũ hay đi làm lao dịch, v.v. Nhưng Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang chưa hề nhắc tới Pháp nạn này, chỉ nhắc tới “Pháp nạn” dưới thời chính phủ Ngô Đình Diệm vì lòng hận thù tôn giáo. Oái oăm là “Pháp nạn” này đã bị Hoa Kỳ, người khai thác Phật giáo để lật đổ ông Diệm, và Liên Hiệp Quốc phủ nhận.

Ngày 20.12.1963, Đại Sứ Fernando Volio Jimenez của Costa Rica trong phái đoàn điều tra LHQ về vụ Phật Giáo tại Việt Nam đã nói với hãng thông tấn NCWC như sau:

Cảm tưởng của riêng tôi là không có chính sách kỳ thị, áp bức hay khủng bố đối với Phật Giáo trên căn bản tôn giáo. Những khai báo về phương diện này thường là nghe nói, và trình bày một cách mơ hồ và tổng quát.

“Mỗi khi một nhân chứng cố gắng tìm một bằng chứng cụ thể nào để trình Phái Đoàn, rốt cục sự kiện chỉ là một hành vi lẻ tẻ hay cá nhân. Căn cứ trên bằng chứng, chính quyền không có chủ trương chính sách chống Phật Giáo vì lý do tôn giáo.”

Còn Tổng Thống Nixon nhận xét:

Việc cho rằng có sự đàn áp Phật Giáo là hoàn toàn bịa đặt. Ông Diệm đã cử nhiệm những viên chức cao cấp không căn cứ vào tín ngưỡng của họ. Trong 18 vị Bộ Trưưng có 5 theo Công Giáo, 5 theo Khổng Giáo, và 8 theo Phật Giáo, kể cả Phó Tổng Thống và Bộ Trưưng Ngoại Giao. Trong 38 Tỉnh Trưởng thì có 12 người theo Công Giáo, 26 người theo Phật Giáo hay Khổng Giáo. Trong 19 tướng lãnh, có 3 theo Công Giáo và 16 theo Cao Đài, Khổng Giáo hay Phật Giáo. Ông Diệm đã miễn nghĩa vụ quân sự cho các tăng sĩ Phật Giáo, trong khi người Công Giáo và các tín đồ khác phải thi hành nghĩa vụ này. Không một Phật tử nào đã bị bắt vì hành đạo và không một bằng chứng đáng tin cậy nào có thể minh chứng ông Diệm đã đàn áp Phật Giáo.”

[Richard Nixon, No More Viêtnams, Arbor House, 1985, tr. 65].

Trong Phật Giáo, VỌNG NGỮ sẽ đưa đến những hậu quả như thế nào?

Trên trang nhà quangduc.com có đăng luận án của Ni cô Thích Nữ Diệu Minh dưới đầu đề “Nghiệp là một định luật luân lý đạo đức”. Luận án này có dẫn chứng định nghĩa về Nghiệp của Tiến sĩ Phật học Tích Lan Walpola Rahula như sau: “Định nghĩa cùng tột của Nghiệp là tác ý (cetana). Tư tưởng, lời nói, việc làm do ý muốn (ý chí) làm động cơ khởi xuất." Vì có tác ý nên con người hành động bằng thân, khẩu hay ý. Và hành động có tác ý dẫn đến phản ứng, hiệu quả chín mùi của nó, gọi là Nghiệp báo hay Nghiệp quả (Kamma-Vipàka). Quả báo đó tương ứng với hành động có tác ý tức nghiệp tạo ra nó. Nghiệp thiện (Kusala) phát sinh thiện quả, ác nghiệp (Akusala) phát sinh ác quả trong ý nghĩa căn bản nhất của quy luật nhân quả nghiệp báo là “Gieo gì gặt nấy”.

Trong bản tuyên cáo chung giữa hai giáo hội Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự đề ngày 26.6.1994 do Hòa Thượng Thích Tâm Châu và Hòa Thượng Thích Hộ Giác đồng ký tên, có tuyên bố như sau:

“Đối với những việc đã xảy ra trong quá khứ, đếu coi là nghiệp vận của cá nhân, của tổ chức chung chịu và đến giờ phút này được hỷ xả tất cả.”

Nhưng trong Kinh Pháp Cú, ở PHẨM ÁC có dạy:

“Chẳng phải bay lên không trung, chẳng phải lặn xuống đáy biển, chẳng phải chui vào hang sâu núi thẳm, dù tìm khắp thế gian này, chẳng có nơi nào trốn khỏi ác nghiệp đã gây.”

Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang rất khó có thể bỏ đi cái đống tài liệu vọng ngữ đã ôm chặt từ 50 năm qua và coi đó là “thành quả” đấu tranh của họ! Khi nghiệp cũ chưa hoàn, nghiệp mới cứ được tạo thêm hàng ngày, lấy lòng hận thù Thiên Chúa Giáo làm động lực, làm  sao “hỷ xả” được?

Vì những cuộc chiến trong nội bộ, Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang đã bể thành 8 và hiện nay vẫn đang phải đối phó với một cuộc nội chiến ác liệt. Với Mỹ, khi Giáo Hội không còn đủ khả năng tạo được biến cố trong nước nữa, Mỹ sẽ bỏ rơi. Liệu Giáo Hội có tìm ra được “con đường giải thoát” trong kinh Phật không?

Để kết luận, chúng tôi xin nhắc lại lời khuyến cáo của Thiền sư Dhammananda:

“Khi tôn giáo bị sử dụng để gia tăng thế lực chính trị thì tôn giáo sẽ phải hy sinh các lý tưởng đạo đức cao quý và trở nên mất gốc, nhượng bộ cho các thế lực chính trị trong thế gian.”

Ngày 9.5.2013

Lữ-Giang

http://www.quansuvn.info/D_1-2_2-234_4-4588_5-10_6-9_17-115_14-2_15-2/

4/ Bản Lên Tiếng Thứ Ba_Liên Quan Đến Án-Mạng Giết Chết Hòa Thượng Thích Quảng-Đức Ngày 11-06-1963

Nam Mô Bổn Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật,

Kính bạch Đức Tăng Thống Thích-quảng-Độ, Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất

Kính bạch Hòa Thượng Thích-huyền-Tôn, Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất tại Úc-Đại-Lợi và Tân-Tây-Lan

Kính bạch Hòa-Thượng Thích-minh-Tâm, Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất Liên Âu

Kính bạch Đại lão Hòa-Thuợng Thích-phổ-Tuệ, Hòa-Thượng Thích-trí-Tịnh Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam

Kính gởi Các Ban Hướng Dẫn, Ban Đại Diện, các Đoàn Sinh Gia-Đình Phật Tử Việt-Nam ở Trong Và Ngoài Nước

Kính bạch chư tôn, đại đức Tăng Ni,

Kính thưa chư quý đạo hữu,

Các Thanh Thiếu Niên đoàn sinh thân mến,

Phần mở đầu của Bản Lên Tiếng Thứ Ba của Hội Sử-Học liên quan đến cái chết của Hòa-thượng Quảng-Đức, chúng con, chúng tôi xin được định nghĩa danh từ, cũng như cách dùng chữ liên quan đến sự kiện nêu ở tựa đề.

Ngày 11-06-1963, Hòa-thượng Thích thượng Quảng hạ Đức tự-thiêu, cố Tổng-thống Ngô-đình-Diệm phát biểu về sự việc này như sau trong buổi chiều cùng ngày: “sự hòa giải đang tiến hành tốt đẹp thì sớm nay do sự tuyên truyền quá khích che dấu sự thật gây sự hoài nghi về thiện chí của chính phủ khiến một số người bị đầu độc gây một án-mạng oan uổng làm tôi rất đau lòng” (nguyên văn).

Do đó, kể từ văn bản này, chúng con, chúng tôi gọi sự tự-thiêu của Hòa-thượng Quảng-Đức là án-mạng thay vì tự-thiêu như trước đây.

Ngoài ra còn nêu thêm về Chính-danh, Chính-nghĩa, của án-mạng này, mà từ 50 năm nay các Giáo-hội Phật-giáo Việt-Nam cũng như Thống-Nhất, Hải-Ngoại và đảng Cộng-sản Việt-Nam gọi là vị pháp thiêu-thân.

Định-nghĩa danh-từ:

Án-mạng: Vụ án có người chết. (Việt-Nam Tự-Điển do Lê-văn-Đức cùng một nhóm thân hữu soạn, Lê-ngọc-Trụ hiệu đính trang 23).

Chính-Danh: Tiếng dùng đúng nghĩa, đúng chỗ, đúng người, một học-thuyết của Khổng-tử...: vua phải vua, tôi phải tôi, cha phải đạo cha, con phải đạo con. (Việt-Nam Tự-Điển do Lê-văn-Đức cùng một nhóm thân hữu soạn, Lê-ngọc-Trụ hiệu đính trang 294).

Chính-Nghĩa: Nghĩa-vụ chính-đáng, việc làm đúng với lẽ phải : Phải biết đâu là chính-nghĩa, đâu là ngụy-quyền. (Việt-Nam Tự-Điển do Lê-văn-Đức cùng một nhóm thân hữu soạn, Lê-ngọc-Trụ hiệu đính trang 295).

A/ Tóm lược sử liệu liên quan đến các vận động của Phật giáo miền Trung dưới chính thể Đệ Nhất Việt-Nam Cộng-Hòa từ đầu tháng 05-1963 đến ngày 11-06-1963:

Phật giáo Việt-Nam từ năm 1945 đến 1963 được chia thành ba bộ phận khác nhau và cũng là ba hình thức sinh hoạt khác nhau. Đó là Phật giáo của những đồng bào miền Bắc di cư (Thượng tọa Thích Trí-Dũng, Thượng-tọa Thích Minh-Châu); Phật giáo miền Trung (Thượng tọa Thiện-Minh, Trí-Quang); Phật giáo miền Nam (gồm Hội Phật Học Nam Việt, Giáo Hội Tăng Già, Phật Giáo Nguyên Thủy và một số các hội đoàn khác…).

Tổng Hội Phật Giáo Việt-Nam (viết tắt là THPGVN) được thành lập vào năm 1951 sau đại hội từ ngày 6 đến 9 tháng 5 (nhằm mùng 1 đến 4 Âm lịch). Đại hội đã suy tôn Hòa thượng Thích Tịnh-Khiết làm Hội Chủ. Mặc dù ba tổ chức Phật giáo nói trên đều nằm trong Tổng Hội Phật Giáo, nhưng vẫn còn sinh hoạt riêng rẻ, chưa có tổ chức một cách chặt chẻ. Lực lượng nòng cốt của THPGVN là Phật giáo miền Trung, là một tổ chức tương đối có quy cũ.

Khi ông Ngô-đình-Diệm về nước chấp chánh ở vai trò Thủ tướng rồi Tổng Thống vào năm 1955, năm thành lập nền Đệ Nhất Việt-Nam Cộng-Hòa, vị Tổng thống dân cử đầu tiên của nền Cộng-Hòa son trẻ đã có một chính sách ưu đãi đặc biệt đối với Phật Giáo Việt-Nam, kể cả Phật Giáo Tây Tạng, cho dù bản thân là một tín hữu Công giáo thuần thành.

chùa xá lợi ở sài gòn

Xây dựng chùa Xá Lợi nằm ở đường Bà Huyện Thanh Quan, Sài Gòn.

chùa vĩnh nghiêm

Chùa Vĩnh-Nghiêm ở đường Công-Lý

chùa nam thiên hhất trụ

Chùa Nam Thiên Nhất Trụ

đức đạt lai lạt ma

Khi được tổ-chức Leadership Magsaysay trao tặng giải thưởng là nhà lãnh đạo chói sáng nhất Châu Á lúc bấy giờ. Tổng-thống Ngô-đình-Diệm đã rất khiêm-nhường và kín đáo biếu lại số hiện kim 15 ngàn Mỹ kim (trị giá của giải thưởng vừa nêu) cho đức Đạt-Lai Lạt-Ma khi ngài cùng chư tăng ni, Phật tử rời khỏi Tây-Tạng bị Trung cộng chiếm đóng chạy sang tỵ-nạn ở Ấn-Độ và Tích-Lan.

Khoảng từ năm 1955 đến khi cuộc biểu tình ở đài phát thanh Huế nổ ra (08-05-1963), Phật giáo miền Trung của Thượng tọa Thiện-Minh và Trí-Quang đã có mối giao hảo rất tốt với ông Ngô-đình-Cẩn.

Ông Ngô-đình-Cẩn đối xử với Phật giáo miền Trung của thầy Thiện-Minh và ông Trí-Quang như một bát nước đầy. Lúc nào cũng yểm trợ lương thực, cũng như các mặt khác cho chùa Từ-đàm (thí dụ như việc xuất ngoại tham dự các hội nghị quốc tế, luôn ưu tiên cho các thầy miền Trung, trong đó có Trí-Quang), một nơi làm việc chính yếu của Phật-giáo miền trung. Trong tất cả các thầy của chùa Từ-Đàm, Trí-Quang là người hưởng ân-đức nhiều nhất từ ông Ngô-đình-Cẩn.

Nhân ngày Lễ Phục-sinh đầu tháng 04-1963, Tổng-thống Ngô-đình-Diệm thị sát dân tình, ông nhận thấy việc treo cờ của Công giáo không phù hợp với thông-tư của trung ương.

Sau chuyến kinh lý, Tổng thống ban hành một thông tư khác nhắc lại việc thể thức treo quốc kỳ cũng như cờ đạo, không phân biệt tôn giáo.

Đầu tháng 5-1963, nhân ngày lễ ngân khánh kỷ niệm 25 năm thụ phong linh mục của Tổng giám mục Ngô-đình-Thục tại Huế, nhiều cờ Công giáo đã được treo, nhưng lại đi trái với thông tư quy định treo cờ của tổng thống; và tháng 05 cũng là lễ Phật đản, Phật tử treo cờ nhưng lại không đúng với thông tư của tổng thống tương tự như vụ treo cờ của Công giáo.

Trong thông tư có đề cập đến việc cờ tôn giáo không được treo cao hơn cờ quốc gia. Tổng-thống Ngô-đình-Diệm là người rất tôn trọng thể diện quốc gia, nên cờ của bất cứ tôn giáo nào, không được phép treo cao hơn lá quốc kỳ. Cũng như những lúc đi kinh lý, nơi nào quốc kỳ cũ, rách, tổng thống đều bắt phải treo quốc kỳ mới.

Bức công điện mang số 9195 đề ngày 06-05-1963 nhắc việc lại treo cờ Phật giáo trong ngày Phật đản ở Huế đã đến không đúng lúc. Công điện này đến chiều ngày 06-05 mới về Tòa đại biểu và tỉnh đường Thừa-Thiên. Tuy nhiên, Văn phòng Cố Vấn Chỉ Đạo của ông Ngô-đình-Cẩn mãi đến ngày hôm sau, 07-05 mới hay biết. Nhưng chùa Từ-đàm đã có trong tay văn bản này từ trước.

Nguyên nhân sự hay biết chậm trễ của ông Cẩn là vì ông không còn được sự tín nhiệm của Tổng thống kể từ khi Đức giám mục Ngô-đình-Thục về Huế.

Trong phiên họp khẩn tại Văn phòng Cố vấn Chỉ đạo, ông Ngô-đình-Cẩn đã quyết định cùng các ông Nguyễn-văn-Đẳng, tỉnh trưởng Thừa-Thiên, đại úy Minh v.v…sẽ hoãn không thi hành lịnh đó, nghĩa là cứ để cho đồng bào treo cờ Phật giáo như thường lệ.

Xe thông tin của tỉnh đã đi thông báo quyết định tạm thời vẫn treo cờ Phật giáo như cũ. Tuy nhiên, do công-điện 9195, đến chùa Từ-đàm trước, sau đó mới đến văn phòng của ông Ngô-đình-Cẩn khiến cho dư luận tại Huế vô cùng xôn xao, cho dù có xe thông tin của tỉnh trấn an, nhưng không khí lúc đó rất ngột ngạt như sẳn sàng có sự phản kháng nào đó…

Lúc 6 giờ chiều, khoảng một ngàn Phật tử cũng như các thầy của chùa Từ-đàm đã tụ tập trước tỉnh đường để biểu tình phản đối công điện quy định việc treo cờ Phật giáo. Hiện diện tại chỗ, phía chính quyền, gồm có các ông Nguyễn-văn-Đẳng, tỉnh trưởng Thừa-thiên Huế; ông Phó tỉnh trưởng Hành chánh; ông Phong Trưởng ty Cảnh sát thành phố Huế. Trong không khí đó, các Thượng tọa Thiện-Minh, Trí-Thủ, và Trí-Quang cùng xuất hiện. Trong ba vị, Trí-Quang là nóng nảy nhất và phản đối chánh quyền và cảnh sát vào sáng ngày 07-05 lại hạ cờ PG, có nơi còn xé cờ. Ông Đẳng, Tỉnh trưởng và ông Phong Trưởng ty Cảnh sát khẳng định là không có chuyện này. Chính quyền địa phương đã thông báo hoãn việc thi hành lịnh của trung ương.

Ông Phong, Trưởng ty cảnh sát hỏi lại xin thầy cho biết chính xác nơi nào, khuôn hội nào đã gặp trường hợp này? Thầy Trí-Quang đã không đưa ra bất cứ bằng chứng nào.

Kết cuộc, mọi việc được giải quyết ổn thỏa, với sự thỏa thuận giữa chính quyền và các thượng tọa. Sau đó, vị tỉnh trưởng Thừa-Thiên cho ba xe phát thanh đi vòng trong thành phố thông báo việc treo cờ PG như bình thường không có gì thay đổi. Trên các xe, có Phật tử do các Thượng tọa cử cùng đi làm công tác thông tin.

Sáng ngày 08-05-1963, Phật tử các nơi nô nức kéo về chùa Từ-Đàm để làm lễ Phật Đản. tuy nhiên số người tham gia tăng lên một cách khác thường. Nhiều người được rỉ tai là sáng nay chính quyền có thể đàn áp Phật tử và không cho rước kiệu.

Đến dự lễ tại chùa Từ-Đàm, có sự hiện diện của Thiếu-tướng Lê-văn-Nghiêm, đại biểu Hồ-đắc-Khương, Tỉnh trưởng Nguyễn-văn-Đẳng, tất cả đều khăn áo chỉnh tề đến với tư cách chính quyền và Phật tử.

Trong buổi lễ, thầy Trí-Quang đã đăng đàn và thuyết giảng một bài pháp chống đối chính quyền một cách nặng nề chưa từng có. Nội dung công kích chính quyền đồng thời có tính cách kêu gọi Phật Giáo tranh đấu cho Phật Pháp và “đòi quyền bình đẳng tôn giáo” Đồng thời khắp nơi đều có những biểu ngữ đòi chính quyền thực thi quyền bình đẳng tôn giáo và lên án kỳ thị tôn giáo. Các viên chức chánh quyền Việt-Nam Cộng-Hòa hiện diện tại chỗ đã rất nhẫn-nhục ngồi tham dự cho đến hết buổi lễ. Sự việc trên được báo lại cho ông Ngô-đình-Cẩn, ông Cẩn giơ tay than :" Tại sao Thầy Trí Quang lại cư xử với mình như vậy?”

Buổi tối cùng ngày, khoảng 19 giờ 30, cuộc tập hợp của Tăng tín đồ tại chùa Từ-Đàm để đốt pháo bông, và được ban tổ chức thông báo hủy bỏ. Đồng thời mọi người được mời tập trung đến đài Phát thanh phía cầu Tràng-Tiền. Như thường lệ, ông quản đốc Ngô-Ganh sửa soạn để phát thanh chương trình Phật đản được thâu sẳn. Phía chùa Từ-Đàm và phật tử áp lực ông Quản đốc phải cho truyền thanh trực tiếp buổi lễ ban sáng kể cả bài thuyết pháp chống chính quyền của thầy Trí-Quang, nhưng áp lực này đã bị ông Quản đốc cương quyết từ chối. Vì trước khi phát thanh phải có sự kiểm duyệt cũng như xin phép.

Tình hình ngày càng căng thẳng! Người dân tụ tập bắt đầu ném gạch đá vào đài ... Ông Quản Đốc Nguyễn-Ganh kêu cứu Thiếu tá Đặng-Sỹ từng 5 phút một.

Có một nhà sư trẻ leo lên nóc đài phát thanh phất cờ Phật giáo và kêu gọi đồng bào tiến lên. Các Thượng tọa Thiện-Minh, Trí-Quang có lên tiếng kêu gọi mọi người giữ bình tĩnh, nhưng mọi việc đã quá trễ...

Trong lúc chiếc xe đến giải tán biểu tình của Thiếu-tá Đặng-Sỹ tiến gần (tốc độ tương đương với rùa bò, vì người hiện diện quá đông) đến cửa đài phát thanh khoảng 50 thước, đột nhiên có tiếng nổ lớn, ngay trước cửa đài, sau đó lại có một tiếng khác bồi thêm...

Hỗn loạn, kinh hoàng bao trùm đài phát thanh Huế….

Một số sĩ quan đứng gần đài cho biết, tiếng nổ làm rung chuyển tất cả, đồng thời ánh sáng phát ra từ chất nổ là loại họ chưa bao giờ nghe thấy trong đời nhà binh của mình.

Trong lúc hỗn loạn, có những tiếng nói vói, hoặc la lối ““Bà con chạy lối ni… đồng bào đừng về lối nớ… Đặng Sỹ nó đang cho xe cán đồng bào ở đằng nớ…”…

Một cảnh tượng thê lương bày ra trước cửa đài, hầu hết nạn nhân chết không toàn thây.

Họ chết không vì mảnh đạn, như do bởi sức ép. Sức ép này tương đương với 5 ký lô TNT.

Danh sách người chết gồm:  1/ Phật tử Đặng Văn Công 13 tuổi; 2/ Phật tử Trần Thị Phước Tự, 17 tuổi; 3/ Phật tử Nguyễn Thị Yến 20 tuổi; 4/ Phật tử Huỳnh Thị Tôn Nữ Tuyết Hoa 12 tuổi; 5/ Phật tử Lê Thị Kim Khanh 17 tuổi;  6/ Phật tử Nguyễn Văn Đạt 13 tuổi; 7/ Phật tử Nguyễn Thị Ngọc Lan 12 tuổi; 8/ Phật tử Nguyễn Thị phúc 15 tuổi.

Trong số nạn nhân có một nữ tín hữu Công giáo. Do đó nạn nhân vụ thảm sát ở đài phát thanh Huế là 7 người Phật tử và 1 nữ tín hữu Công giáo.

Ngay sau vụ nổ trước cửa đài, Thượng-tọa Thiện-Minh đã đứng ra chịu trách nhiệm trước mặt chính quyền gồm các ông Nguyễn-văn-Đẳng, tỉnh trưởng Thừa-Thiên, Thiếu-tá Đặng-Sỹ, Trung tá Thưởng Giám Đốc Nha Công An Tư Pháp.

Qua ngày hôm sau, phía chính quyền cũng bên chùa Từ-đàm của thượng-tọa Thiện-Minh, Trí-Quang đều không có hành động cụ thể. Chính quyền địa phương chờ đợi sự giải quyết của trung ương. Mà trung ương mãi đến ngày 10-05 mới phái bộ trưởng nội vụ ông Bùi-văn-Lương ra điều tra. Nhưng tất cả chỉ diễn ra như một thủ tục hành chánh thông thường.

Khoảng năm 1966, Đại Út Scott (Cố Vấn của Tiểu Đoàn 1/3 SĐIBB từ năm 1965) cho Đại úy Bửu (em họ vợ của Thiếu tá Đặng-Sỹ) biết chính ông ta là tác giả vụ nổ ở đài phát thanh Huế vào đêm 08-05-1963 lúc 22giờ30.

Trở lại tình hình Huế sau đêm kinh hoàng ở đài phát thanh Huế, sau mấy ngày lo sợ bị chính quyền đàn áp, Trí-Quang lấy lại được bình tĩnh khi không thấy động tĩnh gì, đồng thời dấn tới đưa ra một số đòi hỏi, như đòi xác các nạn nhân về an táng (chính quyền không chấp nhận); đưa ra tuyên ngôn 5 điểm trở thành nền tàng cho Phật giáo tranh đấu năm 1963.

  1. Yêu cầu chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thu hồi vĩnh viễn công điện cấm treo cờ tôn giáo nơi công cộng.
  2. Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các hội truyền giáo Thiên Chúa Giáo đã được ghi trong Đạo dụ số 10.
  3. Yêu cầu chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ và khủng bố tín đồ Phật giáo.
  4. Yêu cầu cho tăng ni phật tử được tự do truyền đạo và hành đạo.
  5. Yêu cầu chính phủ bồi thường thích đáng cho những người chết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải bị xét xử.

Bản Tuyên ngôn có chữ ký của Hòa-thượng Thích Tịnh-Khiết. Tuy nhiên, trong bản Phúc Trình của Liên Hiệp Quốc về tình hình Phật giáo năm 1963, viết rằng, HT Tịnh-Khiết không hề muốn ký văn bản này. Ngài đã bị ép buộc, hơn nữa, là người thông thạo Hán văn, nên không hiểu được ý nghĩa của văn bản.

Ngày 09-05-1963, Ủy Ban Liên Phái BảoVệ Phật Giáo được thành lập và do Hòa-thượng Thích Tâm-Châu làm chủ-tịch, văn phòng đặt tại chùa Xá-Lợi thay vì Ấn-Quang.

5 điểm này cộng với tờ trình của bộ trưởng nội vụ, khiến Tổng thống Diệm cho là quá đáng khó chấp nhận.

Trong thời gian này ở Huế, các vị Thượng-tọa ở chùa Từ-đàm đã tiếp xúc một cách hòa hoãn với với chính quyền, đồng thời họ cũng hạ tuyên ngôn từ 5 điểm xuống còn 3 điểm. Nội bộ chùa chia ra hai khuynh hướng rõ rệt, một bên muốn nhượng bộ, một bên cứng rắn muốn làm tới.

Chính quyền trung ương không muốn giải quyết rốt ráo vấn đề, và nghĩ đây là chuyện địa phương giải quyết cũng ổn thỏa.

Đến ngày 20-05, gần nữa tháng trôi qua, không có gì cụ thể được giải quyết. Lúc này, các bộ phận nằm vùng của Việt cộng, chưa có ảnh hưởng công khai, nhưng ngấm ngầm trong các phong trào của Phật giáo. Tuy nhiên, họ đã lợi dụng khoảng trống vừa nêu để tìm cách xâm nhập sâu hơn vào phong trào đang sôi sục khắp nơi.

Dư luận quốc tế, trong đó có các tờ báo Mỹ như New York Times, Washington Post, New York Herald Tribunne cũng như chính giới Mỹ lên tiếng công kích Tổng Thống Ngô-đình-Diệm đàn áp Phật giáo.

Tại Huế, chùa Từ-đàm bị cô lập, vài ngày sau điện nước cũng bị cúp. Đây là quyết định địa phương do tình hình khẩn cấp ngay tại chỗ.

Chủ trương của Tổng thống Ngô-đình-Diệm là giải quyết đối thoại giải quyết ôn hòa và thương thuyết với các thầy ở chùa Từ-Đàm, trong đó có Thượng-tọa Thiện-Minh. Việc này ông Ngô-đình-Nhu không đồng ý, vì cho rằng các thầy không phải là người tu hành thuần túy. Nhưng tổng thống vẫn một mực giữ ý kiến riêng của mình trong việc điều đình với Từ-Đàm.

Một trong những nỗ lực hòa giải là cử Trung tá bác sĩ Trương-khuê-Quan làm trung gian hòa giải, vì ông là người từng làm Phật sự với các thầy từ năm 1946 cho tới khi nhập ngủ năm 1956. Tổng thống yêu cầu chuyển đạt yêu cầu là các thầy đừng tuyệt thực, dân chúng ngưng biểu tình một cách quá đáng, mọi việc sẽ được giải quyết đâu vào đó.

Tưỏng cũng nên nói rằng, trong suốt thời gian xảy ra tranh chấp hay tranh đấu cùa Phật giáo, các viên chức thuộc tòa lãnh sự Hoa-Kỳ đã có sự liên lạc mật thiết với các Thượng-tọa chùa Từ-Đàm.

Như trên đã nêu, mọi việc hòa giải đang được tiến hành âm thần nhưng tốt đẹp thì ngày 11-06-1963, Hòa thượng Thích-quảng-Đức tự-thiêu.

Sau cuộc tự-thiêu này, Tổng-thống Ngô-đình-Diệm phát biểu như sau trong buổi chiều cùng ngày: “sự hòa giải đang tiến hành tốt đẹp thì sớm nay do sự tuyên truyền quá khích che dấu sự thật gây sự hoài nghi về thiện chí của chính phủ khiến một số người bị đầu độc gây một án-mạng oan uổng làm tôi rất đau lòng” (nguyên văn).

Cũng cần phải nhắc lại xuất xứ của hai Thượng-tọa thiện-Minh và Trí-Quang do bác sĩ Tâm-Minh Lê-đình-Thám đào tạo (chủ tịch hội Seerba trước năm 1945). Bác sĩ Tâm-Minh Lê-đình-Thám là một cư sĩ uyên thâm Phật học. Tuy nhiên, ông đã rời bỏ Phật giáo và gia nhập đảng Lao-động Việt-Nam.

B/ Nhận định:

1/ Thông tư, nghị định quy định về việc treo cờ tôn giáo phù hợp với thể diện quốc gia của Tổng-thống Ngô-đình-Diệm là điều hợp lý và đương nhiên.

2/ Văn bản gởi đến Huế ngày 06-05-1963 lại trùng vào dịp lễ Phật đản. Tuy nhiên, chính quyền địa phương qua ông Ngô-đình-Cẩn đã rất linh động và có thiện chí trong việc hoãn thi hành lịnh từ trung ương.

3/ Việc đình hoãn này đã được các bên đồng ý vào ngày 07-05-1963 ở tỉnh đường Thừa-Thiên Huế.

Phía chánh quyền gồm các ông: Nguyễn-văn-Đẳng, tỉnh trưởng Thừa-thiên Huế; ông Phó tỉnh trưởng Hành chánh; ông Phong Trưởng ty Cảnh sát thành phố Huế.

Phía chùa Từ-Đàm: Có các Thượng tọa Thiện-Minh, Trí-Thủ, và Trí-Quang.

4/ Trong lễ Phật đản tổ chức sáng ngày 08-05-1963, Trí-Quang đã bội ước và lên tiếng công kích gay gắt chính quyền. Nên nhớ trong buổi lễ có sự hiện diện của những viên chức cao cấp về hai mặt hành chánh và quân sự Việt-Nam Cộng-Hòa.

Sự kiện này cho thấy:

a/ Phản bội sự thỏa thuận giữa hai bên chính quyền và chùa Từ-Đàm ngày 07-05; b/ Hạ nhục viên chức chính phủ, trong khi hai vị đại diện đến tham dự lễ Phật đản trong sự chân thành; c/ Cố tình thổi phồng sự kiện không thật, thành ra biến cố gọi là "đàn áp Phật giáo cũng như  đòi bình đẳng tôn giáo";

5/ Từ nhận định 4 cũng như các điểm a, b, c và xuất thân của thầy Trí-Quang cho phép đưa đến nhận định 5 này là, nhân vật Trí-Quang tuy mặc áo Phật, nhưng không làm việc cho Phật. Nghĩa là làm việc cho đảng Lao-động Việt-nam (tiền thân của đảng Cộng-sản Việt-Nam hiện thời).

6/ Trong dự kiến, chùa Từ-Đàm sẽ tổ chức lễ đốt pháo bông vào buổi tố ngày 08-05. Tuy nhiên, chương trình này đã bị hủy bỏ và dời đến trước đài phát thanh Huế. Một ngày trước khi xảy ra thảm kịch, Đại úy Scott đã bí mật từ Đà-Nẵng ra Huế. Tại Huế, ông ta bí mật đặt chất nổ trước đài khiến 8 người tham dự biểu tình phải bị chết thảm, đồng thời khoét sâu thêm sự mâu thuẫn giữa nhóm Phật giáo miền Trung với chính quyền.

7/ Việc chùa Từ-Đàm thay đổi địa điểm tổ chức đốt pháo bông từ chùa đến đài phát thanh Huế; cũng như việc đại úy Scott âm thầm ra Huế để đặt chất nỗ nơi đài phát thanh, chứng tỏ, đây không phải là sự tình cờ.

8/ Sau vụ nỗ, nguyên nhân gây ra là từ phía chùa Từ-Đàm do Trí-Quang cầm đầu, nhưng phía chính quyền Việt-Nam Cộng-Hòa luôn giữ sự tích cực và thân thiện để giải quyết những mâu thuẫn và tai nạn vừa xảy ra.

9/ Thủ phạm đặt chất nổ, làm chết 8 người ở đài Phát thanh Huế tối 08-05-1963 lúc 22giờ30 là đại úy Scott; tòng phạm là Trí-Quang người đã lèo lái, khích động, tổ chức cuộc biểu tình nhằm chiếm đài phát thanh cũng như làm bùng nổ những mâu thuẫn mang tính chất địa phương thành cái gọi là "Pháp Nạn Phật giáo 1963".

10/ Từ những mâu thuẫn nhỏ mang tính cách cục bộ địa phương, Trí-Quang đã cố tình khai thác thành những mối bất đồng lớn đến cấp vùng, cấp quốc gia và quốc tế. Phong cách làm việc không phải là của một nhà sư, mà là của một cán bộ cộng sản được huấn luyện kỹ càng.

11/ Chính quyền đệ nhất Việt-Nam Cộng-Hòa từ trung ương đến địa phương đã cố gắng hết khả năng để giải quyết ổn thỏa những việc liên quan đến Phật giáo giai đoạn từ đầu tháng 05-1963 đến ngày 11-06-1963, ngày xảy ra án-mạng giết chết Hòa thượng Quảng-Đức. Tuy rằng, cách giải quyết còn nặng nề, chưa linh động mang tính cách hành chính (đối phưong gồm, Cộng Sản Việt-Nam và Hoa Kỳ đã tận tình khai thác những khuyết điểm này để làm lợi cho họ), nhưng không thể nào kết luận cũng như kết án, Việt-Nam Cộng-Hòa đàn áp, kỳ thị tôn giáo.

12/ Sau sự kiện vụ Đại Úy Scott đặt chất nổ trước đài Phát thanh Huế, Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Đạo Pháp (phía các giáo hội Phật giáo), Ủy Ban Liên Bộ (chính quyền Việt-Nam Cộng-Hòa) được thành lập để giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp cũng như các cuộc biểu tình, tuyệt thực của Phật giáo đang lan rộng và có khuynh hướng đi ngoài sự kiểm soát cả hai bên, ngày 11-06-1963, Hòa thượng Thích thượng Quảng hạ Đức, tự-thiêu với lý do bảo vệ đạo pháp.

a/ Cuộc đàm phán, thương thuyết giữa chính quyền và các vị lãnh đạo cao cấp của Phật giáo đang được tiến hành một cách tốt đẹp, nhưng lại không làm hài lòng hai khuynh hướng, đó là cộng-sản Việt-Nam (Trí-Quang là đại diện); Hoa-Kỳ, nên bằng mọi giá hai khuynh hướng này phải phá hoại cho bằng được.

b/ Cách phá hoại duy nhất, hữu hiệu nhất là việc cưỡng ép Hòa thượng Quảng-Đức tự-thiêu.

c/ Liên tiếp những sự kiện xảy ra từ đầu tháng 5 kéo dài đến đầu tháng 6, trong đó có việc chùa Từ-Đàm bị chính quyền địa phương bao vây, cắt điện nước, vì những hành động biểu tình, tuyệt thực ra ngoài khung khổ của luật pháp quốc gia, đã tạo cho quần chúng cũng như Phật tử nói chung những ngộ nhận cho rằng chính quyền Việt-Nam Cộng-Hòa đàn áp Phật giáo.

d/ Do từ những ngộ nhận đó, HT Quảng-Đức đã phát nguyện tự-thiêu để bảo vệ đạo pháp. Nhưng một thời gian sau, trước khi cuộc tự-thiêu tiến hành, HT Quảng-Đức đã thay đổi ý định không muốn tiếp tục việc này nữa.

e/ Lo sợ thất bại của các phong trào Phật giáo do Cộng-sản, Hoa Kỳ phát động nhằm chống chính phủ Việt-Nam Cộng-Hòa, nên Trí-Quang đã ép HT Quảng-Đức phải tự-thiêu và Đức-Nghiệp là người tổ chức việc này.

f/ Từ hai điểm d và e cho phép nhận định cái chết của HT Quảng-Đức ngày 11-06-1963 là một án-mạng chứ không phải là tự-thiêu bảo vệ đạo pháp như giáo hội phật giáo việt-nam thống nhất và cộng sản việt-nam vẫn thường đưa ra từ 50 năm nay.

g/ Hung thủ cũng như kẻ có trách nhiệm thực sự trong cái chết của Hòa thượng Quảng-Đức, chính là Trí-Quang và Đức-Nghiệp. Xa hơn là đảng Lao-động Việt-Nam và Hoa-Kỳ.

13/ Trước khi xảy ra vụ nỗ trước đài phát thanh Huế tối ngày 08-05-63, giao tình giữa ông Ngô-đình-Cẩn và Trí-Quang rất tốt. Tuy nhiên, vì tham vọng chính trị, cũng như nhu cầu giết người bịt miệng, đã làm mờ lương tâm con người, mất bồ đề tâm của một người được gọi là nhà sư, Trí-Quang đã gây áp lực với chính phủ Nguyễn-Khánh đem ông Cẩn ra xử bắn vào ngày 09-05-1964 tại khám Chí-Hòa.

14/ Từ 12 điểm nhận định trên, cùng với bản phúc trình, điều tra tại chỗ của phái đoàn Liên-hiệp-quốc liên quan đến vấn đề Phật giáo vào năm 1963, cho phép Hội Sử-Học Việt-Nam tại Âu-Châu kết luận rằng, không hề có đàn áp Phật giáo cũng như kỳ thị đối với tăng tín đồ.

15/ Hãy chấm dứt tình trạng viết bài về tưởng-niệm HT Quảng-Đức tự-thiêu cũng như pháp nạn PG năm 1963 đây là những luận điệu mê-tín dị đoan do cộng sản Việt-Nam rao truyền.

16/ Từ 15 điểm nhận định trên Hội Sử-Học Việt-Nam gởi lời kêu gọi đạo hữu Tâm-Diệu chủ trang thuvienhoasen.org, cũng như những tác giả (nếu quý vị là phật tử cũng như trí thức Phật giáo thực sự) đã thực hiện những bài viết về chủ đề Tưởng-Niệm 50 Năm Bồ Tát Thích Quảng-Đức Tự-Thiêu hãy trở về trung đạo đệ nhất nghĩa đế đừng viết bài hướng dẫn tăng ni Phật tử đi dưới tấm biển chỉ đường của Cộng-sản Việt-Nam, mà hãy quay đầu trở lại đi dưới hào quang của chư Phật.

17/ Từ 16 điểm nhận định trên, cái chết của HT Quảng-Đức thật sự không có Chính-danh, Chính-nghĩa như đã được loan truyền. Chính-danh, chính-nghĩa này là ngụy tạo từ Cộng-sản Việt-Nam, thiết tưởng không nên hối-tiếc và nhắc-nhở làm gì.

C/  Tài liệu tham khảo bổ túc:

1/ Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống? Cao-thế-Dung, Lương-khải-Minh

http://www.quansuvn.info/D_1-2_2-205_4-3625_5-10_6-8_17-161_14-2_15-2/

2/ Bằng chứng cụ thể này cho thấy Hòa thượng Minh-Tâm đã đồng hành với đảng Cộng-sản qua việc làm lễ kỷ niệm án-mạng HT Quảng-Đức.

- Liên quan đến việc tổ chức trọng thể kỷ niệm 50 năm án-mạng HT Quảng-Đức, Giáo Hội Phật Giáo Việt-Nam Thống-Nhất Liên Âu do Hòa thượng Thích Minh-Tâm điều hành, trong Bản Lên Tiếng Thứ Hai, Hội Sử-Học Việt-Nam tại Âu Châu khẳng định đây là việc làm hòan toàn có lợi cho đảng Cộng-sản Việt-Nam. Hơn nữa là đồng hành với đảng này nếu Giáo hội của HT Minh-Tâm không hủy bỏ hoặc giảm tầm quan trọng của cuộc lễ.

Thư của Thích Tâm-Huy gởi Thích Minh-Tâm ngày 09-09-2010,  HT Minh-Tâm viết:“Họ to tiếng rêu rao rằng “Tăng Ni Về Nguồn”, “Tăng Ni hải ngoại” là thân Cộng, là Cộng sản. Nhưng rồi, suốt 3 năm qua chưa thấy họ nêu ra được một bằng chứng nào để chứng minh một cách cụ thể rằng “Tăng Ni Về Nguồn”, hay “Tăng Ni hải ngoại” là Cộng sản”.

http://www.quansuvn.info/D_1-2_2-100_4-4666_15-2/

Và đã có Bốn bức bồ đề tâm thư 1, 2, 3, 4 và hai bản lên tiếng về việc HT Quảng-Đức tự-thiêu là những chứng minh khác 1, 2 cũng như bản lên tiếng thứ ba này.

3/ Ủy Ban Điều Tra Của Liên Hiệp Quốc khẳng định, không hề có đàn áp Phật giáo tại Việt-Nam thời khoảng 1963 qua bản Phúc Trình Của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc Về Tình Hình Phật Giáo Năm 1963 tại nước Việt-Nam Cộng-Hòa

http://www.quansuvn.info/D_1-2_2-100_4-4664_15-2/

4/ Nhận định của tác giả Nguyễn-văn-Lục : LHQ và vụ khủng hoảng Phật giáo 1963 - Nguyễn-văn-Lục

http://www.quansuvn.info/D_1-2_2-100_4-4665_15-2/  

Trúc-Lâm Yên-Tử @  Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam

Đang xem báo Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam

Flag Counter