lịch sử việt nam

Trang Chính

Bản Lên Tiếng Của Thư Viện Hoa Sen:

Bưu-Hoa Tem Thư Việt-Nam Cộng-Hòa:

Biển Cả Và Con Người:

Blogs (Bản Tin các Blogs;  Blog Ba Sàm; Blog Cầu Nhật-Tân; Blog Chu-Mộng-Long; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo; Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Diễn-Đàn Công-Nhân; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Huỳnh-Ngọc-Chênh; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào; Blog Quê Choa VN;

Chết Bởi Trung Cộng

Lịch Sử Trung Cộng Cướp Nước Việt-Nam

Những Sự Thật Cần Được Biết Về Sinh-Hoạt Cộng Đồng Việt-Nam

Những Sự Thật Lịch-Sử Cần Phải Biết Về Lịch-Sử Và Phật Giáo Việt Nam

Pháp Luân Đại Pháp Cứu Độ Chúng Sanh

Sitemap

Tự-Điển Địa Linh Nhân Kiệt Của Việt-Nam

 

 

Thiên Niên Sử Thăng Long Thành

 Hội Sử-Học Việt-Nam
Vietnamese historical Association
Websites : http://www.truclamyentu.info; http://www.thuvienhoasen.info
Email: truclamyentu1@truclamyentu.info

Đừng Im Tiếng – Mà Phải Lên Tiếng

Mục Lục:

 

Tựa

Chương I/ Dẫn Nhập:

Chương II/ Tư tưởng tộc Việt thời tối cổ:

Chương III/ Nếp Suy Tư Bình Dân:

Chương IV/ Nếp Suy Tư Bác Học:

Chương V/ Nếp Suy Tư Bác Học - Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà Năm 981:

Chương VI/ Nếp Suy Tư Bác Học - Bài thơ Vận Nước và  Bài Thơ Thần:

 

Chương VII/ Tư Tưởng Bác Học - Sự Khởi Đầu Của Tam Giáo Đồng Nguyên :

Chương VIII/ Tư tưởng Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 15 sau khi thành rồng bay lên được hình thành:

Chương IX/ Tư tưởng Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ 15 đến thế kỷ thứ 17 sau khi thành rồng bay lên được hình thành:

Chương X/ Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam:

Chương XI/ Từ Ngàn Năm Thăng Long 2010 Đến Thỏa Hiệp Việt Trung 2011:

Chương XII/ Hướng Đến Một Nền Đa Giáo Đồng Nguyên, Một Xã Hội Phân Nhiệm:

Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc biên khảo

Chương III/ Nếp Suy Tư Bình Dân:

Tức là tư tưởng của hàng dân chúng nói chung. Trong tư tưởng bình dân này, Ý Thức Thần Thoại và Triết Học là tiêu biểu nổi trội đã chi phối đời sống tâm linh của người Việt ở những thời gian đầu dựng nước. Vào thời đó người Việt Nam sống trong một không khí siêu nhiên, có thể nói là huyền bí. Bất cứ ở đâu họ cũng nhìn thấy ảnh hưởng của thế lực phi thường hành động vào đời sống của chính họ, tốt hay xấu. Bất cứ người Việt nào, thuộc về giai cấp nào ở xã hội đều không vượt được ra ngoài sự ám ảnh về quyền lực phi thường đó...và họ cảm thấy sợ hãi.

Sự sợ hãi nầy đã góp phần gây nên những tín ngưỡng ấy. Bất luận ra sao, họ đều cảm thấy bất cứ động tác nào, dù lớn dù nhỏ đều không ra khỏi phạm vi huyền bí đó. Họ luôn bị cái huyền bí phi thường ám ảnh. Đưa đến tâm trạng muốn thờ cúng để được che chở, bảo vệ. Do ảnh hưởng tâm lý đó, nên đâu đâu họ cũng đều thấy thần hiện diện cả. Thần linh bàng bạc, ẩn hiện khắp nơi, nhuần thấm khắp cả, tất cả đều được xem là Thần linh. Và họ cho rằng ngay cả sông núi cũng có hồn.

Có người xem đây là mê tín dị đoan, nhưng vào thời điểm cách đây hơn 5000 năm, lúc ấy tâm trạng con người còn hồn nhiên, mộc mạc, chưa bị những điều kiện vật chất, kỹ thuật chi phối. Họ suy nghĩ như thế cũng là tự nhiên.

Mặc dù nói như vậy, nhưng sau hàng ngàn năm, tư tưởng này vẫn còn bàng bạc trong chúng ta. Bài quốc ca Việt Nam được xử dụng trong thời đệ I và đệ II Cộng Hòa Việt Nam (1954-1975) có câu như sau: "Này công dân ơi đứng lên đáp Lời Sông Núi...".  Do đó chúng ta thấy rằng khi lựa chọn bài quốc ca cho nước Việt Nam độc lập, tổng thống Ngô Đình Diệm đã thấy được ý nghĩa cao quý của dân tộc, nên đã chọn bài Tiếng gọi sinh viên hay Tiếng gọi công dân của Lưu Hữu Phước làm quốc ca chính thức.

Sau ngày 30/04/1975, bài quốc ca này vẫn được cộng đồng người Việt tự do trên thế giới xử dụng vào những lễ nghi quan trọng cũng như trong các cuộc họp mặt cộng đồng v.v...
Đến bản Việt Nam Minh Châu Trời Đông, ở câu thứ hai: "Việt Nam nước thiêng tiên rồng". Và bản nhạc cô gái Việt được sáng tác năm 1955 đều do nhạc sĩ Hùng Lân là tác giả có lời như  sau“Lời sông núi bừng vang bốn phương trời, giục chúng ta đường phụng sự quyết tiến”. Lời sông núi, nước thiêng tiên rồng chỉ khác chữ nhưng ý nghĩa không khác nhau chút nào. Các tác giả đã chan hòa ý thức thần thoại và triết học của tư tưởng Việt Nam vào các bài hát nêu trên và đã  làm nổi bật nền Văn Hiến Chi Bang của tổ tiên của hơn 5000 ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Đi xa hơn nữa, dân Việt chúng ta trong những lúc bị ngoại xâm thường hay cầu nguyện hoặc ước nguyện do ý niệm xem trọng thần linh đã nâng từ sự vật lên thần vật, thần linh như: "Nguyện cầu hồn thiêng sông núi độ trì cho đất nước sớm được tự do hay mau chóng chiến thắng quân thù".

Quan niệm thần linh đã được Khổng Tử trình bày trong sách Trung Dung nói lên về sự cường thịnh của quỉ thần, đức độ không thể nghĩ bàn. Do sự cường thịnh và đức độ đó khiến cho mọi người tôn kính, mặc trang phục chỉnh tề để tế lễ và cảm nhận sự thiêng liêng huyền bí bao phủ cả người;

"Quỉ thần chi vi đức, kỳ thịnh kỹ hồ! Thị chi nhi phất kiến, thính chi nhi phất văn, thể vật nhi bất khả di, sử thiên hạ chi nhân trai minh thịnh phục dĩ thừa tế tự, dương dương hố như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu Thi vân: "Thần chi cách ti, bất khả hộ ti, thấn khả dịch ti". Phù vi chi hiển, thành chi bất khả yểm như thử phù".

"Nghĩa là : "Cái đức của quỉ thần thịnh lắm thay ! Nhìn mà chẳng thấy, lắng tai mà chẳng nghe thấy, thể hội hết các vật mà không sót vật nào, khiến cho trong thiên hạ ai nấy trai giới sạch sẽ mặc đồ tốt để tế lễ, cuồn cuộn như ở khắp nơi trên đầu mình, bên cạnh mình.

"Kinh thi nói: "Việc quỉ thần đến không thể lường được, huống chi có thể lờn được sao. "Ôi ! mầu nhiệm mà rõ rệt, thành thật không thể che giấu như thế đấy. "

Từ Ý thức thần thoại và triết học nêu trên tổ tiên chúng ta đã cụ thể hóa qua việc xây dựng Nhà Mồ, Thiên Động cũng như chế tạo trống đồng Đông Sơn. Từ đó đã hình thành hai nền văn minh tối cổ của tộc Việt đó là: Văn Minh Đông Sơn và Văn Minh Lạch Trường.

Cũng cần biết thêm là miền châu thổ Nhị Hà hay Hồng Hà, ngày nay là miền Bắc Việt Nam vốn từ ngàn xưa là nơi cố đô lịch sử, nơi đây có một địa lý tự nhiên cùng khí hậu khác biệt hẳn với nước Tầu, phía Bắc kể từ dãy núi Ngũ Lĩnh trở lên, phía Tây là dãy Trường Sơn hay núi Ngang chạy từ Tây Tạng xuống đến mũi Cà Mau của Nam Việt, chia dãy đất bán đảo Đông Dương hay Ấn Độ China thành hai khu vực Đông Tây rõ rệt.

Trống đồng Đông Sơn được các nhà khảo cổ học thuộc trường Viễn Đông Bác Cổ khai quật tại Bắc Việt, phía Bắc Trung Việt ở tỉnh Thanh Hóa một di tích cổ xưa của một nền văn minh có trước khi nước ta bị người Tàu đô hộ.

Năm 43 sau Tây lịch, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng bị thất bại, Mã Viện đã thẳng tay tàn sát dân Việt, đồng thời thực hiện một cuộc tàn phá đến tận gốc rễ văn hóa của tộc Việt bằng cách thâu gom hết trống đồng ở Giao Chỉ (tiêu biểu nền văn minh tộc Việt) để đúc thành ngựa chiến (tiêu biểu văn minh tộc Hán). Ngoài ra Mã Viện còn đem Khổng giáo cũng như  nếp sống Tầu, sửa Luật Việt, để  đồng hóa dân Việt. Chính sách cai trị vô cùng dã man tàn bạo, các sự kiện này đã ghi lại trong Hậu Hán Thư (sách sử Tầu).

Trống đồng Đông Sơn là những cổ vật quý giá cho các bộ môn như xã hội học, nhân chủng học cũng như cho văn hóa và tiền sử học của tộc Việt. Các nhà khảo cổ tìm thấy, một chiếc ở chùa Long Đội Sơn làng Ngọc Lữ tỉnh Hà Nam và chiếc thứ hai đào được ở làng Hoàng Hạ, tỉnh Hà Đông giáp giới với tỉnh Hà Nam, cách mặt đất 1,50m. Cả hai đều ở châu thổ Bắc Việt. Đấy là hai chiếc trống toàn vẹn nhất. Ở Pháp, Viện bảo tàng quân đội có trưng bày một chiếc trống đồng của tộc Việt, không rõ có phải một trong hai chiếc trống nêu trên hay không?

Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam (viết tắt là LSTTVN) tập 1 ghi: "Trên mặt trống có nhiều hình vẽ... Trống đồng để ở Hà Nội mang trên mặt hình vẽ sáu chiếc thuyền, ở giữa có những con chim lớn đậu. Các thuyền đều cùng một kiểu. Vỏ thuyền khum khum vòng vòng nửa vành trăng. Ở giữa nhô lên một cái ụ có trang trí, có lẽ là cột buồm. Giữa cái ụ với đuôi thuyền có một kiến trúc mái phẳng, ở trong có một cái trống. Những trang trí ở mũi thuyền và đuôi thuyền gợi lên hình ảnh cái đầu và đuôi chim. Thủy thủ của thuyền là một số những chiến sĩ mang dao, cầm tên hay rìu, và hai người trong số có một người đánh trống treo ở cột buồm, một người cầm mái chèo. Một chiến sĩ đứng ở trên mũi thuyền, sẵn sàng bắn tên. Các đồng ngũ cũng có vẻ rộn rịp. Toàn bộ cho ta cảm tưởng một cuộc giàn trận theo nhịp trống, và người cầm lái đang đẩy mạnh khiến mái chèo uốn cong trong tay y... Như thế là toàn thể cảnh trí biểu diễn đề tài duy nhất quan hệ với người chết và tín ngưỡng linh hồn bất diệt".

lịch sử việt nam, lich su viet nam, trống đồng đông sơn, đông sơn đồng cổ

Trống đồng Đông Sơn thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên
trưng bày tại Bảo tàng Guimet, Paris, Pháp. Nguồn: vi.wikipedia.org

lịch sử việt nam, đông sơn đồng cổ, trống đồng đông sơn

Hình từ trái sang phải: Chiếc trống đồng Đông Sơn, hình chim Hồng Lạc cùng chiến thuyền trên mặt trống (sưu tập đã lâu không nhớ nguồn gốc, Nguyễn Việt Phúc Lộc ghi chú).

Trống đồng được các tộc Việt thời cổ chú ý chế  tạo. Tuy nhiên trống đồng kiểu Lạc Việt là thịnh hành nhất, cho nên gọi là Lạc Việt đồng cổ. Trống đồng tượng trưng cho sự hiệu lịnh dân chúng, tế lễ thần linh, trừ tà khử bịnh của các Lạc Hầu, Lạc Tướng. Quân Tầu xâm lăng gọi các Lạc Hầu, Lạc Tướng là Cừ soái.
Vịnh Nam man của Bồ Tát Tôn Quang Hiến có câu:

Đồng cổ dữ man ca
Nam nhân kỳ tài đa

nghĩa:

Trống đồng với ca Mường
Người Nam tế lễ thường. (LSTTVN tập 1)

Ngụ ý triết học của Trống Đồng đã gồm thâu tinh thần văn hóa Lạc Việt thời đại Đông Sơn, tức là thời kỳ mà tộc Việt mới chỉ là một bộ lạc sinh hoạt trong những điều kiện đơn sơ giản dị, đồng thời còn sống chìm trong tinh thần vật tổ thiêng liêng thần bí. Vật tổ ấy là con chim Hồng Lạc (được khắc trên trống đồng), mà ngày nay người ta còn mường tượng qua hình ảnh con cò, nhất là qua hình ảnh cô gái miền Bắc, đầu chít khăn mỏ quạ, mình khoác cái áo tơi lá gồi, khom lưng dưới ruộng lúa lúc trời mưa. Vào thời mới lập quốc người dân Lạc Việt đều tự đồng hóa bản thân với con chim vật tổ là một, chỉ có một ý thức là ý thức vật tổ, chỉ có một mệnh lệnh trên cùng là mệnh lệnh vật tổ, giữa họ và hồn thiêng vật tổ không thể nào tách rời được. Vật tổ thời đó được hoàn toàn thay thế vào thời buổi này, là đại diện cho tộc Việt, là hiện thân cho hồn nước, hồn Việt, lời sông núi, nước thiêng tiên rồng.

phụ nữ việt nam

Hình ảnh cô gái Việt Nam trong lịch sử tư tưởng của tộc Việt đã được bưu chính Việt Nam Cộng Hòa đem vào tem thư và phát hành ngày 23/03/1969 trong bộ tem Phụ nữ Việt nam.

Trống đồng tượng trưng cho tinh thần dân tộc của Việt Nam, cái ý chí độc lập tự cường qua thời gian và không gian, tục lệ cúng tế trống đồng có từ thời nhà Lý, triệu thỉnh Thần Đồng Cổ để chứng minh cho minh quân lương tướng cùng phụng sự và trung thành với vua (ngày xưa vua tượng trưng cho đất nước)

Về tài liệu lịch sử cũng như giai thoại thần kỳ của trống đồng Đông Sơn được liệt kê như sau - LSTTVN tập 1:

- Quyển Bách Việt nguyên lưu dữ văn hóa (Trung Hoa tùng thư), La Hương Lâm viết:

Thời cổ, văn hóa của Việt tộc rất đáng được người ta chú ý là sự chế tạo trống đồng với cách sử dụng. Và trống đồng của Việt tộc lại phải lấy kiểu Lạc Việt làm thịnh nhất, cho nên gọi là Lạc Việt đồng cổ".

- Sách Tùy Thư Địa lý chí viết:

Từ núi Ngũ Lĩnh đến hơn hai mươi quận phía Nam, các rợ* đều đúc đồng làm trống lớn. Khi mới hoàn thành treo ở giữa sân, đặt rượu để mời đồng bào. Người đến dự có trai gái nhà giàu lấy vàng bạc làm chiếc thoa lớn, cầm đánh vào trống, xong rồi để lại cho chủ nhân gọi là thoa đồng cổ. Chúng hay chém giết lẫn nhau gây nhiều thù oán.

Muốn đánh nhau thì đánh vào trống ấy, người kéo đến cuồn cuộn như mây vần. Kẻ nào có trống gọi là Đô Lão, quần chúng đồng tình suy tôn và tòng phục”.

* Người Tầu gọi tộc Việt chúng ta là rợ hay mọi.

- Sử nhà Minh có truyện Lưu Hiển, năm đầu Vạn Lịch đi đánh dẹp Từ Châu thu phục được 60 trại, bắt được trống đồng Chư Cát tới 93 chiếc.

- Sách Đại Nam nhất thống chí, tập thượng, mục tỉnh Thanh Hóa, nói về các đền miếu, có nói đến Đền thờ thần Trống Đồng “Đồng cổ thần từ”.

- Đại Nam Nhất Thống Chí- tỉnh Thanh Hóa, tập Thượng, Văn Hóa tùng thư tập 4 ghi : trống đồng đã có từ thời Đông Hán, mà không phải là bắt đầu từ đời Khổng Minh mới có

- Theo Việt Nam Carrefour de peuples et de civilisations trang 1648-1651, Olov Janse ed France Asie ghi nhận : "Dưới sự điều khiển của hai chị em bà Trưng, quân Hán đã bị đuổi ra khỏi biên giới. Để trả thù sự thất bại ấy, vua Tàu đã gởi vào năm 43 s.cn nhiều đội quân do tướng Mã Viện chỉ huy để chinh phục lại xứ này. Theo sử chép, một trong những đạo quân đã vượt xuống miền châu thổ Thanh Hóa, dọc theo lưu vực sông Mã, nơi vị trí của làng Đông Sơn. Chắc hẳn lúc ấy làng Đông Sơn đã bị cướp bóc và thiêu hủy. Cuộc chém giết rất ghê tởm. Hàng ngàn người bị giết hay bị bắt làm nô lệ. Một vài lãnh tụ với một nhóm đồng ngũ cũng đã chạy thoát. Biến cố lịch sử ấy đã đánh một đòn rất nặng vào nền văn minh Đông Sơn ở miền Bắc Việt Nam… Nhưng nếu văn minh Đông Sơn đã bị suy sụp tại Bắc Việt vì cuộc xâm lăng của quân tàu, nó vẫn còn sống sót lại ở nơi khác trong khu vực Đông Nam Á, nhất là nơi các cư dân miền núi".

Đây là cuộc diệt chủng văn hóa tộc Việt lần thứ nhất của quân Tầu (nhà Hán) xâm lăng.

Đời vua Thánh Tôn nhà Lý, khi còn làm thái tử (1020) vâng mạng đi đánh Chiêm Thành, đêm mơ thấy một người mặc áo nhung, tay cầm bảo kiếm, tâu rằng:

- Tôi là Thần núi Đồng Cổ xin theo để lập công cùng Thái tử.

Tới khi bình được giặc, liền lập miếu để thờ. Sau khi Thái tử lên ngôi, lại mộng thấy Thần mang bài thơ đến báo cho biết là có ba vị Vương định gây sự biến, rồi sau quả nhiên hiện có thực sự. Nhân thế, liền phong làm chức “Thiên Hạ Minh Chủ”, nghĩa là “Bậc lãnh đạo hàng đầu”, thăng lên làm Thượng Đẳng Thần và hàng năm bắt đắp đàn ở trước cửa đền, sai các quan đến lễ và đọc lời tuyên thệ như sau:

Thần tử chi đạo, hệ hồ cương thường, vi tử bất hiếu, vi thần bất trung, thần minh mạc giám, diễn diệt kỳ môn”.

“Đạo làm tôi con cốt ở luân lý cương thường. Làm con không hiếu với cha mẹ. Làm bầy tôi không hết lòng với nước với vua, xin thần minh ngầm xét tru diệt cả nhà…”.

Đời Lê Trung Hưng năm 1561 quân Mạc xâm chiếm các huyện Vĩnh Ninh, An Định, thuyền quân nhà Lê đóng ở thượng lưu sông Mã, đương đêm vẳng nghe có ba tiếng trống ở ngoài trăm dặm, tướng nhà Lê liền sai người trinh sát mới biết là tiếng trống do tự núi Khả Lao phát ra. Đến sáng hôm sau quân Lê theo đánh quân Mạc, trong khi giao chiến, bỗng có nước trào dâng lên rất mạnh, quân nhà Lê bèn thừa thế dong buồm thẳng tiến, khí thế hăng hái bội phần, làm cho quân Mạc phải thua bỏ chạy.

Năm Hoằng Định (đời vua Lê Kính Tôn, 1600) trong tờ sắc phong Sơn Thần có câu: “Trên sông sóng gió giúp cho trận thắng của tam quân” tức là truyện này vậy.

Như thế từ lịch sử, giai thoại truyền kỳ cho đến tư tưởng triết lý đều ghi nhận trống đồng Đông Sơn đã được tộc Việt chế tạo từ ngàn xưa dùng trong các việc tế lễ cũng như hiệu lịnh dân chúng của các Lạc hầu, Lạc tướng.

Tuy nhiên đã có nhiều sự tranh luận về tác quyền trống đồng giữa các học giả Việt Nam và Tầu.

Trong thập nhiên 50, học giả Đào Duy Anh người còn chịu ảnh hưởng sâu đậm của các học giả Tây phương, cũng đã khẳng định trống đồng Đông Sơn là của tộc Việt.

Phần học giả Tầu Wen You nói rằng : "Nếu có ai hỏi di vật thuộc nền văn minh cổ xưa nào của những người anh em ruột thịt thiểu số phương Nam của Trung Hoa là quan trọng nhất, chúng ta có thể trả lời không do dự rằng đó chính là Trống Đồng... đó là tài sản chung của toàn thể dân tộc Trung Hoa". Ngoài Wen You còn có hai học giả khác tiêu biểu cho giai đoạn này đều là người Quảng Tây, hai giáo sư Huang Zenqing và Hong Sheng.

Trong Hội nghị Nam Ninh về trống đồng Đông Sơn tổ chức tháng 3 năm 1980.  Nước Tầu có hai điểm nổi bật, thứ nhất là về số lượng, họ đã thâu gom được nhiều trống đồng hơn phía Việt Nam (lẽ đương nhiên, vì những nơi đào được trống đồng đều là những vùng đất của nước Việt cũ đã bị họ xâm chiếm trước đây); thứ hai là họ đã lập được phòng thí nghiệm đo độ phóng xạ Carbon 14, do đó mạnh miệng công bố niên đại của một số trống đồng, điều mà phía Việt Nam cộng sản chưa có phương tiện thực hiện.

Nhưng dù có tốn rất nhiều công phu, hội nghị cũng không thuyết phục được ý kiến của cộng đồng học giả quốc tế.  Những học giả hàng đầu Trung Hoa khác vẫn giữ lập trường im lặng không ủng hộ hội nghị.

Nền văn minh thứ hai của tộc Việt là Văn minh Lạch Trường. Theo ông Olov Jansé nhà khảo cổ học danh tiếng cho biết tín ngưỡng Thiên Động hay Văn minh Lạch Trường (Grotte-Ciel) là do cổ mộ hạt Bắc Ninh được phát hiện, ý niệm chính yếu là trong lòng ngọn núi lớn có hang động mà vòm tượng trưng bầu trời và đáy đại diện cho mặt đất. Cửa động là biên giới phân biệt thế giới hữu hình và thế giới vô hình. Nơi đây là chỗ tu luyện cho đạo thần tiên không chết.

Trong Khóa Hư Lục Trần Thái Tông miêu tả về nền văn minh này như sau:

Đã phản bội với cái không có sinh, không có hóa; tức là sinh lực tự thân, thì mãi mãi là có sinh có hóa. Không có sinh hóa thì không hóa không sinh. Có hóa sinh cho nên có sinh hóa.”

"ký bội vô sinh vô hóa, vĩnh vi hữu hóa hữu sinh. Vô sinh hóa tắc vô hóa vô sinh hữu hóa sinh cố hữu sinh hữu hóa". (Khóa Hư)

Vua Trần Thái Tông đã nói lên sự sinh diệt bất tận, sự sinh diệt bất tận trong Phật giáo đó là Thập Nhị Nhân Duyên.

Nói đến sự sinh diệt bất tận này, người xưa có một câu nói khác để diễn tả:

Tiền tiền vô thủy, hậu hậu vô chung

nghĩa

Trước sau đều không có đầu mối

Các Thiên động được tổ tiên ta xây dựng dùng làm nơi tu tiên, cũng như nơi quàn hay chôn những người đã chết, với hy vọng rằng những người này cho dù không còn hiện diện trên cõi đời, nhưng sẽ luôn luôn độ trì cho con cháu được may mắn. Đồng thời trong thâm tâm của người Việt Nam thời xưa là mong muốn được sống mãi không chết như các vị thần tiên. Người dân Việt thời nay nhiều nơi còn giữ tục lệ này, như mua sẳn một cái quan tài (thông thường gọi là thọ) để trong nhà dưỡng già và chờ trăm tuổi.

Như thi hào Nguyễn Du có nói:

Chết là thể xác, còn là tinh anh

Trên khắp đất nước chúng ta, có nhiều sự tích thần thoại nhắc đến triết lý thiên động này như, hang động Thẩm Lệ ở Yên Bái, như các người già trẻ tham gia trẩy hội thành hương nơi động Hương Tích, như Phủ Giầy để chiêm ngưỡng cảnh giới thiên nhiên thanh tĩnh cao siêu hầu quên đi trong chốc lát sự đau khổ của trần gian.

Những nhân vật tiêu biểu của triết lý thiên động thần tiên gồm có Chử Đồng Tử với công chúa Tiên Dung Mỵ Nương trên bãi Tự Nhiên. Chử Đồng Tử được tôn thờ như vị Đạo tổ bậc nhất trong hàng Bốn Người Không Chết hay Tứ Bất Tử của hệ thống tín ngưỡng thần tiên Việt Nam, ông còn được xem là người Phật tử tại gia đầu tiên của Phật giáo Việt Nam. Những nhân vật khác cũng như cuộc tình duyên giữa chàng Từ Thức với nàng Giáng Tiên; câu chuyện Thánh Gióng đuổi giặc Ân...

Bốn Người Không Chết hay Tứ Bất Tử của hệ thống tín ngưỡng thần tiên Việt Nam đó là Tản Viên Sơn thần, Phù Đổng Thiên vương, Chử Đồng Tử, và Liễu Hạnh Công chúa.

Nền văn-minh Lạch-Trường đi vào thực tế mà di-tích tiêu-biểu là Cổ Mộ Thiên động đã được tổ tiên của tộc Việt xây dựng rải rác từ Tứ-Xuyên xuống đến Thanh-Hóa.

Khi đề cập đến nền văn-minh Lạch-Trường thì không thể nào không đề cập đến hòn non bộ. Hơn nữa khi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại vào năm 43, rồi tiếp theo cuộc khởi nghĩa bất thành của Bà Triệu năm 248, cuộc quật khởi ngắn ngủi của Triệu Việt Vương lập nên triều đình Vạn Xuân năm 544 và đến năm 602 thì bị mất; văn hóa Tầu tràn ngập phương Nam khiến cho lối chơi non bộ phát triển rất mạnh, nhưng ở phương Bắc chưa thấy xuất hiện lối chơi này. Sau đó mãi đến các thời như Nguyên, Minh, Thanh mới rộ nở. Cách chơi hòn non bộ này của tổ tiên tộc Việt là một hình thức đối kháng sự đồng hóa dã man của văn hóa Tầu. Chính thức thịnh hành bắt đầu từ triều đình nhà Tiền Lê (Lê Đại Hành).

Tóm lại, văn minh Đông Sơn hiện diện từ giữa thế kỷ cuối trước Công nguyên cho đến giữa thế kỷ đầu sau Công nguyên. Khoảng không gian hiện diện của nền văn minh này bao gồm ở vùng Tây Nam nước Tầu hiện nay, lãnh thổ tộc Việt lúc bấy giờ, gần trọn bán đảo Đông Dương, và một vài xứ ngoài của Ấn Độ. Giáo sư Nguyễn Đăng Thục cho rằng: "...văn minh Đông Sơn hình như phần lớn của dân nguyên thủy Mã Lai".

Văn Minh Lạch Trường Cổ Mộ Thiên Động hiện diện từ ba thế kỷ trước Công nguyên. Sự hiện diện của nền văn minh này rải rác khắp nơi trên lãnh thổ của tộc Bách Việt. Có thể nói một phần vùng Tây Nam nước Tầu hiện nay, tức lãnh thổ của tộc Bách Việt bấy giờ, kéo dài cho đến Bắc Việt và một số tỉnh Trung phần. Cũng theo Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục nhận xét:"...Văn minh thời kỳ này là của chủng tộc phần lớn nguồn gốc Thái". Và hai nhóm văn minh trên đã có ảnh hưởng lớn đối với văn minh Việt Nam cũng như các dân tộc vùng núi hiện diện ở miền Tây nước Tầu và một phần lớn vùng Đông Nam Á.

Ngoài ra còn một nền văn minh khác có ảnh hưởng sâu đậm đến văn minh Việt Nam, đó là nền văn minh Óc Eo. Hiện diện từ những năm đầu của thế kỷ thứ II sau Công nguyên và kéo dài đến 500 năm. Vùng ảnh hưởng gồm các vùng ven biển phía Bắc cho đến Thanh Hóa, phía Nam bao gồm miền Nam Việt Nam. Xuất xứ của nền văn minh này là Ấn Độ.

Mục Lục:

 

Tựa

Chương I/ Dẫn Nhập:

Chương II/ Tư tưởng tộc Việt thời tối cổ:

Chương III/ Nếp Suy Tư Bình Dân:

Chương IV/ Nếp Suy Tư Bác Học:

Chương V/ Nếp Suy Tư Bác Học - Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà Năm 981:

Chương VI/ Nếp Suy Tư Bác Học - Bài thơ Vận Nước và  Bài Thơ Thần:

 

Chương VII/ Tư Tưởng Bác Học - Sự Khởi Đầu Của Tam Giáo Đồng Nguyên :

Chương VIII/ Tư tưởng Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 15 sau khi thành rồng bay lên được hình thành:

Chương IX/ Tư tưởng Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ 15 đến thế kỷ thứ 17 sau khi thành rồng bay lên được hình thành:

Chương X/ Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam:

Chương XI/ Từ Ngàn Năm Thăng Long 2010 Đến Thỏa Hiệp Việt Trung 2011:

Chương XII/ Hướng Đến Một Nền Đa Giáo Đồng Nguyên, Một Xã Hội Phân Nhiệm:

Trúc-Lâm Yên-Tử @  Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam

Đang xem báo Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam

Flag Counter