lịch sử việt nam

Trang Chính

Bản Lên Tiếng Của Thư Viện Hoa Sen:

Bưu-Hoa Tem Thư Việt-Nam Cộng-Hòa:

Biển Cả Và Con Người:

Blogs (Bản Tin các Blogs;  Blog Ba Sàm; Blog Cầu Nhật-Tân; Blog Chu-Mộng-Long; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo; Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Diễn-Đàn Công-Nhân; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Huỳnh-Ngọc-Chênh; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào; Blog Quê Choa VN;

Chết Bởi Trung Cộng

Lịch Sử Trung Cộng Cướp Nước Việt-Nam

Những Sự Thật Cần Được Biết Về Sinh-Hoạt Cộng Đồng Việt-Nam

Những Sự Thật Lịch-Sử Cần Phải Biết Về Lịch-Sử Và Phật Giáo Việt Nam

Pháp Luân Đại Pháp Cứu Độ Chúng Sanh

Sitemap

Tự-Điển Địa Linh Nhân Kiệt Của Việt-Nam

 

 

Thiên Niên Sử Thăng Long Thành

 Hội Sử-Học Việt-Nam
Vietnamese historical Association
Websites : http://www.truclamyentu.info; http://www.thuvienhoasen.info
Email: truclamyentu1@truclamyentu.info

Đừng Im Tiếng – Mà Phải Lên Tiếng

Mục Lục:

 

Tựa

Chương I/ Dẫn Nhập:

Chương II/ Tư tưởng tộc Việt thời tối cổ:

Chương III/ Nếp Suy Tư Bình Dân:

Chương IV/ Nếp Suy Tư Bác Học:

Chương V/ Nếp Suy Tư Bác Học - Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà Năm 981:

Chương VI/ Nếp Suy Tư Bác Học - Bài thơ Vận Nước và  Bài Thơ Thần:

 

Chương VII/ Tư Tưởng Bác Học - Sự Khởi Đầu Của Tam Giáo Đồng Nguyên :

Chương VIII/ Tư tưởng Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 15 sau khi thành rồng bay lên được hình thành:

Chương IX/ Tư tưởng Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ 15 đến thế kỷ thứ 17 sau khi thành rồng bay lên được hình thành:

Chương X/ Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam:

Chương XI/ Từ Ngàn Năm Thăng Long 2010 Đến Thỏa Hiệp Việt Trung 2011:

Chương XII/ Hướng Đến Một Nền Đa Giáo Đồng Nguyên, Một Xã Hội Phân Nhiệm:

Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc biên khảo

Chương VIII/ Tư tưởng Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 15 sau khi thành rồng bay lên được hình thành:

Ý thức dân tộc nguyên thủy bao gồm: Trống đồng, đại diện cho nền văn minh Đông Sơn tối cổ, đã trở thành Thần Đồng Cổ, tượng trưng cho uy quyền, ý thức quốc gia dân tộc; Lạch trường, tức Mộ cổ thần tiên, tượng trưng cho linh hồn tổ tiên.

Ý thức dân tộc nguyên thủy này, đã cùng với Ý thức Phật Giáo (Tín, Hạnh và Nguyện) từ thời Hai Bà Trưng trở về sau, là chiếc khiên kiên cố là cột sống bảo vệ nền văn hóa của tộc Việt chống lại sự đồng hóa dã man của Hán tộc. Sau khi tộc Việt gầy dựng nên những triều đại của Lý Phật Tử, Triệu Quang Phục... Nhưng phải đợi đến thời Vua Đinh Tiên Hoàng lập nên triều đại Đại Cồ Việt, vào lúc ấy Phật giáo, Khổng giáo và Lão giáo mới có cơ hội gặp gỡ nhau trong không bầu không khí yên lành. Và từ đó Ý Thức Dân Tộc Nguyên Thủy đã thâu hóa cả ba giáo lý trên và biểu hiện ra bên ngoài dưới hình thức được gọi là Tam Giáo Đồng Nguyên.

Sự tiếp nối và phát triển cực thịnh ý thức này được thấy rõ nhất vào thời Lý Trần mà thôi. Người dân các thời này lấy đó làm nền tảng bảo vệ đất nước cũng như xây dựng xã hội. Tam Giáo Đồng Nguyên là một thái độ sống, hành xử, thâu hóa ba nền văn hóa bên ngoài, và biến những nền văn hóa nầy trở thành của tộc Việt cũng như phụng vụ cho tộc Việt. Biết cách thâu hóa các nền văn hóa bên ngoài để phục vụ cho đất nước và dân tộc ngoại trừ những bậc minh quân lương tướng, không ai có thể làm được...

Chính do tam giáo đồng nguyên, tổ tiên chúng ta mới làm nên những chiến thắng lẫy lừng dưới thời Lý như Bắc phạt Tống, Nam bình Chiêm; thời nhà Trần, mở Hội nghị Diên Hồng, Bình Than với lời thề Quyết Chiến, Sát Thát vang dội non sông, ba lần đánh tan đạo quân Mông-cổ dữ dằn nhất thời Trung cổ. Đó là về mặt quân sự.

Về mặt văn hóa, tư tưởng, triết lý, thì khỏi phải nói. Biết bao nhiêu văn chương sáng tác của các bậc Tăng sĩ, nho sĩ, vua quan đã làm nổi bật nền tam giáo đồng nguyên một thủa xa xưa.

Như bài thơ của vua Lê Thánh Tông

Bài viếng Vũ Thị

Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương
Miếu ai giống miếu vợ chàng Trương
Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ
Cung nước chi cho lụy tới nàng
Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt
Giải oan chăng lọ mấy đàn tràng
Qua đây bàn bạc mà chơi vậy
Khá trách chàng Trương khéo phủ phàng

Bài họa

Chuyện vô duyên

Đầu ghềnh nghi ngút tõa khói hương
Tương truyền nàng Vũ huyện Nam Xương
Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt
Oan thiên vì một lỗi chàng Trương
Đèn tỏ đèn mờ nghe con trẻ
Ghen sau ghen trước luận chẳng nên
Hoàng giang đàn miếu còn nguyên đấy
Ngàn đời khéo nhắc chuyện vô duyên

Vua Trần Thái Tông với Khóa Hư Lục, ngài đã cho mọi người thấy hạnh phúc thật sự của một đời người ra sao, khi xả thân phụng sự nhân quần xã hội, với tâm trạng không chấp nhất rồi dần tới giải thoát sự ràng buộc sống chết ngay tại đời này. Điều quan trọng là sự quân bình tâm lý giữa tinh thần và vật chất trong sự phá chấp một cách triệt để.

Thanh sơn để xứ kiến thiên thoát
Hồng ngẫu khai thời văn thủy hương

nghĩa

Núi xanh lối thấp trời trong sáng
Sen hồng nở hoa thơm ngạt ngào

Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung (1230-1291) vừa là thiền sư vừa là một vị danh tướng cầm quân đã đánh thắng quân Mông cổ trong trận tái chiếm kinh thành Thăng-Long (năm 1285). Ông được vua Trần Thái Tông phong tước Hưng Ninh Vương. Vua Trần Nhân Tông bái ông làm thầy học Phật pháp. Trần Khắc Chung quả quyết rằng, nếu không có Tuệ trung Thượng Sĩ thì không có Trần Nhân Tông. Sách Thiền tông bản hạnh đã tán dương Tuệ Trung Thượng Sĩ như sau:

Nước Nam dẹp được bốn bên
Vì có Phật bảo hoàng thiên hộ trì
Đời đời Phật đạo quang huy
Quốc Gia đỉnh thịnh cường thì tăng long
Nhân Tông gặp thầy Tuệ Trung
Làm đệ nhất tổ Nam cung nước này.

Vua Trần Nhân Tông (Đức Điều Ngự Giác Hoàng) đã biểu hiện sự thẩm thấu tâm linh của bản thân trong Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca, quyển này có đoạn viết như sau:

Niệm lòng vằng vặc
Giác tính quang quang ;
Chẳng còn bỉ thử
Tranh nhân chấp ngã
Trần duyên rũ hết
Thị phi chẳng hề

ngài khuyên mọi người chúng ta nên buông bỏ tức là không buông bỏ mà là buông bỏ. Buông bỏ là nên buông bỏ phiền não vọng tưởng; không buông bỏ là theo đuổi đến cùng để đạt tới mục tiêu giác tính quang quang; mà là buông bỏ tức buông bỏ chấp nhân chấp ngã.

Do quan niệm mở rộng như thế, ngài Điều Ngự Giác Hoàng đã không còn là một vị thiền sư của Phật Giáo, cuộc đời và hành trạng của ngài là biểu tượng chung cho sự hài hòa tôn giáo và dân tộc của thời nhà Trần. Điều quan trọng hơn hết, cuộc đời của ngài từ khi làm vua đến lúc cầm gươm đánh giặc rồi bỏ hết tất cả xuất gia tu hành đã thể hiện một cách rõ rệt nhất lý tưởng bồ tát và lý tưởng quân tử của nền Tam giáo đồng nguyên. Đó là cách sống đời vui đạo (cư trần lạc đạo).

Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã viết Hịch Tướng Sĩ kêu gọi toàn thể quân đội Đại Việt lúc quân Mông-cổ xâm lăng nước ta lần thứ hai, bài Hịch có đoạn như sau:

... ta cùng các ngươi, sinh nhằm thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan, nhìn thấy lũ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ; ỷ thế Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham không cùng; mượn danh hiệu Vận Nam vương để thu vàng bạc, vơ vét hết của khó có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, tránh sao khỏi tai vạ về sau?

... Nay ta chọn lấy binh pháp của các danh gia, soạn làm một quyển, gọi là BINH THƯ YẾU LƯỢC. Các ngươi hãy chuyên chú luyện tập theo sách này, vâng lời ta dạy, thì mới phải đạo thần tử, bằng khi bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, suốt đời sẽ là kẻ nghịch thù.

Ý thức dân tộc thời Lý Trần lại một lần nữa kết tinh và sáng tạo một tôn giáo Việt Nam, và tôn xưng Đức Thánh Trần Hưng Đạo là vị Tổ Đạo Nội. Tức là một Đạo của dân tộc Việt. Tinh thần của Đạo Nội đã lừng lững xuất hiện cùng với tam giáo đồng nguyên trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lăng Mông-cổ. Và đã đưa cuộc chiến đấu này đến chiến thắng sau cùng.

Tam giáo đồng nguyên, cũng như tư tưởng cư trần lạc đạo của vua Trần Nhân Tông đã đưa đến một xã hội khai phóng và nhân bản mà ngày nay (năm 2012) nhân loại đang đòi hỏi một cách bức thiết.

Mục Lục:

 

Tựa

Chương I/ Dẫn Nhập:

Chương II/ Tư tưởng tộc Việt thời tối cổ:

Chương III/ Nếp Suy Tư Bình Dân:

Chương IV/ Nếp Suy Tư Bác Học:

Chương V/ Nếp Suy Tư Bác Học - Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà Năm 981:

Chương VI/ Nếp Suy Tư Bác Học - Bài thơ Vận Nước và  Bài Thơ Thần:

 

Chương VII/ Tư Tưởng Bác Học - Sự Khởi Đầu Của Tam Giáo Đồng Nguyên :

Chương VIII/ Tư tưởng Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 15 sau khi thành rồng bay lên được hình thành:

Chương IX/ Tư tưởng Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ 15 đến thế kỷ thứ 17 sau khi thành rồng bay lên được hình thành:

Chương X/ Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam:

Chương XI/ Từ Ngàn Năm Thăng Long 2010 Đến Thỏa Hiệp Việt Trung 2011:

Chương XII/ Hướng Đến Một Nền Đa Giáo Đồng Nguyên, Một Xã Hội Phân Nhiệm:

Trúc-Lâm Yên-Tử @  Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam

Đang xem báo Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam

Flag Counter