lịch sử việt nam

Trang Chính

Bưu-Hoa Tem Thư Việt-Nam Cộng-Hòa:

Biển Cả Và Con Người:

Chết Bởi Trung Cộng

Lịch Sử Trung Cộng Cướp Nước Việt-Nam

Những Sự Thật Cần Được Biết Về Sinh-Hoạt Cộng Đồng Việt-Nam

Những Sự Thật Lịch-Sử Cần Phải Biết Về Lịch-Sử Và Phật Giáo Việt Nam

Pháp Luân Đại Pháp Cứu Độ Chúng Sanh

Sitemap

Southeast Asia Sea

Tự-Điển Địa Linh Nhân Kiệt Của Việt-Nam

Thư Mục Các trang Web Khác

Việt-Nam Ngô-đình-Diệm Ngô-đình-Nhu (nhìn lại lịch-sử Việt-Nam 52 năm 1963-2015):

 

Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

Việt-Nam Ngô-đình-Diệm Ngô-đình-Nhu (nhìn lại lịch-sử Việt-Nam 53 năm 1963-2016)

Southeast Asia Sea

quốc kỳ việt nam, cờ việt nam bay, cờ việt nam tung bay, cờ vn bay

southeast asia sea, biển Đông Việt Nam, south china sea, biển nam trung hoa, tranh chấp biển đông

Chuyên mục Southeast Asia Sea được thành lập nhằm khẳng định chủ quyền biển Đông từ hơn 10 ngàn năm của dân tộc Việt-Nam.

Từ hơn 10 ngàn năm qua, dân tộc Việt-Nam đã sống với biển, gần biển. Đây là nền văn minh chói sáng của tộc Việt.

Tình cảm gắn bó giữa biển và con người Việt Nam đã có chiều dài hàng 10 ngàn năm và tình cảm này vĩnh viễn không thể nào chia cắt được cho dù trải qua nhiều sự thay đổi của lịch sử.

***

tôi yêu việt nam cộng hòa

***

Bài thơ thần Nam Quốc Sơn Hà không phải của tướng quân Lý Thường Kiệt

Tổng thống Mỹ Barack Obama sang thăm Việt Nam vào các ngày  23-25/5/2016, ông đã nhắc lại bài thơ thần và nói rằng đó là của tướng quân quân Lý Thường Kiệt. Đây là một điều vô cùng sai lầm và cần phải điều chỉnh.

Mời đọc chương VI của Thiên niên sử Thăng Long Thành có nói đến tác giả thực sự của bài thơ thần Nam Quốc Sơn Hà.

Thư viện hoa sen, ngày 26-06-2016

***

Chương VI/ Nếp Suy Tư Bác Học - Bài thơ Vận Nước và  Bài Thơ Thần :

Nền tảng của chiến thắng năm 1076 của Lý Thường Kiệt đã được xây dựng từ năm 981. Khi hai bài thơ Vận Nước và Nam Quốc (hay còn gọi là bài thơ thần) đều xuất hiện trước sau trong cuộc chiến tranh vệ quốc năm 981 dưới thời vua Lê Đại Hành. Cả hai đều có chung nguồn gốc và tác giả. Nguồn gốc và tác giả đó không ai khác hơn ngài Pháp Thuận thiền sư.

Khi vua Lê Đại Hành mới lên làm vua, theo Thuyền Uyển Tập Anh ghi Pháp Thuận thiền sư đã là người giúp đỡ rất tích cực. Do đó vua Lê đã hết lòng tin tưởng giao cho ngài phụ trách về mặt ngoại giao cho triều đình. Phụ trách ngoại giao như vậy chẳng khác nào một vị bí thư của nhà vua. Nếu không phải là một vị chơn tu đạo cao đức trọng, cũng như kiến thức uyên thâm làm sao vua Lê Đại Hành có thể tin tưởng giao trọng trách này được. Toàn Thư có nhắc đến vào mùa thu năm Canh Thìn (980) vua Lê có đưa một phái bộ ngoại giao sang Tống gồm nha hiệu Giang Cự Vọng và Vương Thiệu Tộ. Nội dung văn kiện ngoại giao mà phái đoàn này mang theo nhằm "hoãn binh nhà Tống". Người soạn văn kiện này cũng chính là Pháp Thuận thiền sư.

Song song, để chuẩn bị đất nước đi vào cuộc chiến đối phó với sự xâm lăng nhà Tống đã gần kề. Vua Lê Đại Hành đã cùng với Pháp Thuận thiền sư chuẩn bị về nhiều mặt khác nhau cho đất nước từ quân sự, chính trị cho đến văn hóa tư tưởng (phần dẫn nhập đã trình bày). Những biện pháp đó nhằm huy động tối đa nội lực dân tộc để đối đầu với thế lực xâm lăng hung hãn của nhà Tống do Triệu Khuông Nghĩa chủ trương.

Về mặt văn hóa tư tưởng cũng như nghệ thuật lãnh đạo đất nước, ngài Pháp Thuận đã thường nhắc nhở vua Lê qua bài thơ vận nước :

Nguyên âm:

Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh

Nghĩa:

Vận nước như dây cuốn
Trời Nam mở thái bình
Nhàn nhã nơi cung gấm
Cõi cõi hết đao binh

Vận nước có vững chắc hay không, là do người lãnh đạo anh minh, nhân nghĩa, đó là những điểm tinh yếu mà bài thơ Vận Nước muốn nêu lên. Khi vận nước có vững chắc thì đất nước mới giữ gìn được sự độc lập tự chủ. Và đây là lý do tiếp theo để tạo điều kiện cho Bài thơ sông núi nước Nam (hay Bài thơ thần) xuất hiện trên chiến tuyến sông Đồ Lỗ (Toàn Thư gọi là sông Chi Lăng, Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sỹ gọi là sông Bạch Đằng) nơi quân dân Đại Cồ Việt dưới sự chỉ huy của vua Lê Đại Hành cùng tướng quân Phạm Cự Lượng đánh bại quân Tống của Hầu Nhân Bảo. Bài thơ Sông núi (hay bài thơ thần) đã khẳng định vị thế độc lập tự chủ của nước Đại Cồ Việt đối với nước Tầu phương Bắc của nhà Tống.

Dưới đây là truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt được ghi lại trong Lĩnh Nam Chích Quái của các tác giả Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh và Kiều Phú biên soạn...(và còn một vài tác giả khác đã hiệu đính cho quyển sách này thêm phong phú ở một số thời gian sau). Lĩnh Nam Chích Quái là quyển sách sưu tập, biên soạn những thần tích kỳ lạ của nước Nam và những thần tích đó đã ảnh hưởng rất lớn đối với vận mạng dân tộc trong thời gian hàng ngàn năm.

Năm Thiên Phúc nguyên niên đời Lê Đại Hành, Tống Thái Tổ sai bọn tướng quân Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng cất quân sang xâm lược nam phương. Lê Đại Hành và tướng quân Phạm Cự Lượng kéo quân tới sông Đồ Lỗ cự địch, hai bên đối đá. Đại Hành mộng thấy hai thần nhân ở trên sông vái mà nói rằng: "Anh em thần, một tên là Trướng Hống, một tên là Trương Hát, xưa kia theo Triệu Việt Vương cầm quân chinh phạt nghịch tặc mà lấy được thiên hạ. Về sau Triệu Việt Vương mất nước, Lý Nam Đế triệu hai anh em thần. Bọn thần vì nghĩa không thể theo được, uống thuốc độc mà tự tử. Thượng đế thương anh em thần có công lại trung nghĩa một lòng, mới phong làm quan tướng trong hàng các thần linh, thống lĩnh quỉ binh.

Nay quân Tống phạm cõi, làm khổ sinh linh nước ta, cho nên anh em thần đến yết kiến, xin nguyện cùng nhà vua đánh giặc này để cứu sinh linh". Vua giật mình tỉnh dậy, mừng rỡ mà bảo cận thần rằng: "Có thần nhân giúp ta rồi vậy". Bèn lập tức đốt hương ở trước thuyền ngự mà khấn rằng: "Nếu thần nhân có thể giúp ta làm nên công nghiệp này, thì xin bao phong huyết thực muôn đời". Đoạn giết súc vật tế lễ, hóa mũ áo, voi ngựa, tiền giấy.

Đêm ấy Đại Hành mộng thấy hai thần nhân mặc mũ áo vua ban đến bái tạ. Đêm sau lại thấy một người dẫn đoàn quỉ áo trắng, tự phía nam sông Bình Giang mà tới, một người dẫn bọn quỉ áo đỏ từ phía bắc sông Như Nguyệt mà lại, cùng xông vào trại giặc mà đánh. Canh ba đêm ba mươi tháng mười, trời tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng. Quân Tống kinh hoàng.
Thần nhân tàng hình ở trên không, lớn tiếng ngâm rằng:

Non sông nước Nam, vua nước Nam ở
Điều ấy đã định rõ trong sách trời. 
Nếu như giặc Bắc sang xâm lược,
Thì sẽ bị lưỡi gươm sắc chém tan như chẻ tre (Dịch ý)

Nguyên văn

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !

Quân Tống nghe thấy, xéo đạp vào nhau mà chạy tan, lầm giết lẫn nhau, ai lo chạy thoát thân người ấy, bị bắt không biết bao nhiêu mà kể. Quân Tống đại bại mà về. Đại Hành trở về ăn mừng, phong thưởng công thần, truy phong cho hai vị thần nhân, một là Tinh mẫn đại vương lập miếu thờ ở tại ngã ba sông Long Nhãn, sai dân ở Long Nhãn, sông Bình Giang phụng thờ, một là Khước mẫn đại vương lập miếu ở ngã ba sông Như Nguyệt, sai dân ở bờ sông Như Nguyệt phụng thờ, hưởng huyết thực đời đời, nay vẫn còn là phúc thần.

Bài thơ Sông Núi Nước Nam (hay bài thơ thần) xuất hiện lần đầu tiên trong Lĩnh Nam Chích Quái được biên soạn vào cuối thế kỷ 14, rồi cuối thế kỷ 15. Là một tác phẩm văn hóa trác tuyệt bằng tiếng nôm, cổ xưa nhất, đáng tin cậy nhất khi đề cập đến bài thơ thần trong truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt. Và bài thơ Thần được xác định lại trong các tác phẩm Việt sử diễn âm và Thiên nam ngữ lục được soạn vào cuối thế kỷ 16 và 17.

Còn một điểm rất quan trọng được Lĩnh Nam Chích Quái nêu ra, đó là sau khi chiến thắng quân Tống năm 981, vua Lê Đại Hành đã cho người xây miếu thờ Khước Mẫn đại vương ở sông Như Nguyệt và Tinh Mẫn đại vương ở sông Long Nhãn. Do đó truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt ghi chép trong Lĩnh Nam Chích Quái đã minh chứng một điều, bài thơ sông núi (hay bài thơ thần) đã xuất hiện từ năm 981.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên soạn vào gần cuối thế kỷ 15 (năm 1479), được khắc in toàn bộ và công bố lần đầu tiên vào năm Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hoà thứ 18, triều Lê Hy Tông năm 1697, dịch giả Viện khoa học xã hội Việt Nam, xuất bản năm 1993 ghi sự xuất hiện của bài thơ thần Sông núi nước Nam như sau (Bản Kỷ - Quyển III - Nhân Tông Hoàng Đế trang 110):

...Một đêm quân sĩ nghe trong đền Trương tướng quân có tiếng đọc to rằng :

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !
(ngưng trích)

Không có dòng chữ nào ghi Lý Thường Kiệt là tác giả của bài thơ này cả. Nếu năm 981 vua Lê không cho xây miếu thờ Khước Mẫn đại vương (hay Trương tướng quân) ở sông Như Nguyệt, thì làm sao có đền của Trương tướng quân và tiếng đọc to phát xuất từ đền ấy năm 1076 cho được.

Những bản khác của Lĩnh Nam Chích Quái như Tục Loại của Đoàn Vĩnh Phúc soạn năm Quang Bảo thứ nhất (dương lịch 1500); Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập do Gia Cát Thị ghi vào năm Cảnh Hưng Giáp Ngọ (dương lịch 1774) cũng biên như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư về xuất xứ của bài thơ thần.

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn soạn vào các năm 1856-1881, dịch giả Viện Sử Học Hà Nội 1957-1960, nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội xuất bản năm 1998 ghi: "...Kịp khi Ung Châu và Liêm Châu bị phá, An Thạch hay tin, giận lắm, bèn dùng Quách Quỳ làm Chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm Phó sứ, cầm đầu chín tướng quân, ước hẹn các nước Chiêm Thành và Chân Lạp cùng sang lấn cướp. Nhà vua sai Thường Kiệt đem quân đón đánh, đến sông Như Nguyệt, đánh nhau kịch liệt, Thường Kiệt cả phá được địch" (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục - Chính Biên - Quyển III - trang 141). Không một dòng chữ nhắc đến bài thơ thần.

Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca, trang 127, truyện 5 - Lý Thường Kiệt bại Chiêm phá Tống...như trì thiên binh (13). Chú thích 13. Trì thiên-binh: rong-ruổi quân nhà trời. Tục truyền rằng khi đóng quân bên bờ sông Như-nguyệt để chống với quân nhà Tống (Tầu), Lý-thường-Kiệt đang đêm nghe thấy trong đền thờ Trương-Hát (xem câu 515-516) có tiếng ngâm thơ: "

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !

(nghĩa là: đất nước Nam, thì vua nước Nam ở,
phần đất đã định rõ ràng trong sách trời.
Cớ sao giặc kia lại đến xâm phạm,
chúng bay rồi phải chịu thua).

Quân sĩ biết có bài thơ ấy đều nức lòng đánh giặc, sau quân Tống thua. Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca do Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái biên soạn năm 1870, học giả Hoàng Xuân Hãn đề tựa và dẫn tháng chạp năm 1956 tại Paris do nhà xuất bản Trường Thi xuất bản.
(ngưng trích) 

Không có dòng chữ nào nhắc đến Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ thần cả.

Việt Sử Toàn Thư  của Sử gia Phạm Văn Sơn ở trang 149 ghi:

... Để phấn khởi tinh thần quân đội, Lý Thường Kiệt đã áp dụng một thuật tâm lý, là làm bốn câu thơ, cho người lén vào đền Trương Hát ở bên sông thét ra:

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !
(ngưng trích)

Như thế Việt Sử Toàn Thư của Sử gia Phạm Văn Sơn ghi là 4 câu thơ trên là "Lý Thường Kiệt đã áp dụng một thuật tâm lý, là làm bốn câu thơ".

Việt Điện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên viết năm 1329 đời vua Trần Hiến Tông truyện Thái úy Trung phụ dũng vũ uy thắng công Lý Thường Kiệt, không có một đoạn nào nhắc đến bài thơ sông núi nước Nam (bài thơ thần). Về chiến trường trên sông Như Nguyệt, Lý Tế Xuyên ghi : "...Nhà Tống sai tướng đem quân sang báo thù...Ông (Lý Thường Kiệt) cố sức đắp thành trên sông Như Nguyệt để chống giữ, rồi phản công lấy lại được Vũ-bình-nguyên... v.v... (ngưng trích)". Vỏn vẹn chỉ có thế.

Ở truyện Khước địch thiện hựu, trợ thuận đại vương Uy địch dũng cảm, hiển thắng đại vương (Việt Điện U Linh Tập), có đoạn viết: "...Đến thời vua Lý Nhân Tông (1072-1127) quân Tống sang lấn, tiến vào trong cõi. Vua sai Thái úy Lý Thường Kiệt lập trại ở ven sông để chống giữ. Một đêm, quân sĩ nghe trong đền có tiếng Thần ngâm thơ:

Nam quốc sơn hà nam đế cư,
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Tác giả Lý Tế Xuyên có chú thích về bài thơ thần như sau: Theo quyển Thiên Nam vân lục liệt truyện A. 1442 T.V.K.H, tờ 57 và 58 chép, thì : khi vua Lê Đại Hành đi đánh giặc Tống, mộng thấy hai anh em ông Trương đến kể tên họ và nói : trước cùng thờ vua Ngô, sau nhà Ngô mất, Đinh Tiên Hoàng cố triệu ra làm quan, hai anh em không chịu, cùng uống thuốc độc chết, rồi được thượng đế thương, cho làm thần. Hai anh em hiển linh giúp vua Lê Đại Hành, ngâm một bài thơ như trên, quân Tống liền thua chạy.

Chép như vậy có lẽ không đúng bằng quyển này, vì theo sử và các sách Địa dư chí thì bài thơ nầy ở miếu thần ngâm lên, vào thời vua Lý Nhân Tông khi quân Tống sang lấn ta. (ngưng trích).

Tác giả Lý Tế Xuyên viết "không đúng bằng quyển này" quyển này là quyển nào, tác giả không nói rõ.

Sử gia Ngô Sĩ Liên và Thủ đại tạng thư hỏa chinh chưởng Trung phẩm phụng ngự, An tiêm lộ chuyển vận sứ Lý Tế Xuyên ghi thời điểm xuất hiện của bài thơ thần là vào năm 1076 và địa điểm là bên bờ sông Như Nguyệt từ đền của Trương Hát tướng quân. Điểm đáng chú ý là cả hai không nêu ai là tác giả; Tác giả Lý Tế Xuyên ghi ở phần chú thích hai vị tướng quân Trương Hống Trương Hát giúp vua Lê Đại Hành đánh quân Tống và ngâm bài thơ Thần. Nhưng tác giả lại biên vào phần chính của quyển Việt Điện U Linh rằng bài thơ Thần xuất hiện vào năm 1076, nhưng cũng không biên đền thờ của Trương tướng quân ở sông Như Nguyệt xuất hiện từ năm nào.

Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp có ghi đền thờ của Trương tướng quân ở sông Như Nguyệt được Vua Lê cho dựng lên sau chiến thắng năm 981.

Sử gia Phạm Văn Sơn trong Việt Sử Toàn Thư trang 149 ghi "Lý Thường Kiệt đã áp dụng một thuật tâm lý, là làm bốn câu thơ". Bài thơ thần xuất hiện cùng địa điểm, cùng thời gian, đồng thời nêu luôn tên tác giả.

Hai vị sử gia Ngô Sĩ Liên và Lý Tế Xuyên chưa từng nêu lên bối cảnh vì sao bài thơ sông núi (bài thơ thần) xuất hiện. Riêng sử gia Phạm Văn Sơn nêu lên lý do là "để phấn khởi tinh thần quân đội".

Đối với chúng tôi đã không có sức thuyết phục cũng như độ tin cậy cao.

Qua những tài liệu lịch sử từ Lĩnh Nam Chích Quái xuất hiện gần cuối thế kỷ 15, đến Việt sử diễn âm và Thiên nam ngữ lục được soạn vào cuối thế kỷ 16 và 17 đã là những chứng cứ hùng hồn nhất, tin cậy về bài thơ sông núi nước Nam (bài thơ thần). Do đó đã cho phép chúng tôi nhận thấy giữa bài thơ Vận Nước và bài thơ Sông núi nước Nam, trước sau có sự gắn kết chặt chẻ nêu lên ý nghĩa Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà một cách cụ thể và rõ rệt nhất.

Dưới đây là một phần trích khác trong Việt Sử Tiêu Án nói lên tài năng tuyệt vời của ngài Pháp Thuận thiền sư.

... Năm Thiên Phúc thứ bảy (986) nhà Tống sai Lý Giác sang nước ta, đến chùa Sách Giang, vua Lê mật sai thiền sư Pháp Thuận giả trang làm quan coi bến đò để theo dõi đương sự. Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sỹ ghi ngài Pháp Thuận là Thuận Giả.

Lý Giác là người giỏi văn chương, tình cờ thấy hai con ngỗng bơi trên mặt nước, ứng khẩu rằng:

"Nga nga song song nga nga,
ngưỡng diện hướng thiên nhai"
(hai con ngỗng
ngước lên trông chỗ trời xa) Việt Sử Tiêu Án.

Ngài Pháp Thuận cầm mái chèo đối lại hai câu thơ trên như sau:

"Bạch mao phô lục thủy,
hồng trạo bãi thanh ba"
(lông trắng trên nước biếc,
chân đỏ bơi trên làn sóng xanh). Việt Sử Tiêu Án

Sứ giả Lý Giác rất khâm phục tài của vị quan coi bến đò, nên khi tới sứ quán đưa bài thơ rằng:

"Hạnh ngộ minh thi tán uẩn du,
nhất thân lưỡng độ khứ Giao Châu,
Đông Đô tái biệt tâm vưu luyến,
Nam Việt thiên trùng vọng vị hưu.
Mã đạp yên vân xuyên lãng mạch,
xa từ thanh chướng phiếm trường lưu.
Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiến,
khê đàm ba tĩnh kiếm thiềm thu".
(May gặp Minh thì giúp trước sâu,
một mình hai độ đến Giao Châu,
Đông Đô từ biệt lòng vàng mến,
Nam Việt xa xôi ngóng chưa thôi,
ngựa đạp mây mờ xuyên đá gợn,
xe từ non biếc phóng thuyền theo,
ngoài trời còn trời nên xét thấu,
khe đầm sóng lặng thấy trăng thu).

Ngài Pháp Thuận đưa bài thơ ấy, Khuông Việt thái sư bảo: "Ý của bài thơ này tôn vua nước Nam cũng như vua Trung Quốc", vua Lê Đại Hành ngợi khen bài thơ, xuống chiếu cho ngài Khuông Việt làm khúc hát tiễn Lý Giác rằng:

"Tường phong hảo, cẩm phàm trương, rao vọng thần tiên phục đế hương. Vạn trùng sơn thủy thiệp xương lãng. Cửu thiên quy lộ trường, tình thảm thiết, đối ly trường, phan luyến sứ tinh lang. Nguyện tương thâm ý vị biên phương, phân minh tấn ngã hoàng".

(Gió lành tốt, buồm gấm giương, xa ngó thần tiên về đế hương, muôn trùng non nước vượt sóng xanh, đường về muôn dặm xa, chén ly biệt, tình vấn vương, quyến luyến sứ tinh lang. Muốn vì biên cảnh dãi tâm tràng tâu rõ với Ngô hoàng). Việt Sử Tiêu Án

Bách khoa toàn thư mở, Wikipédia ở trang Lý Thường Kiệt ghi là «bài thơ chưa rõ nguồn gốc tác tác giả mà nhiều tài liệu dân gian cho là của ông đang đêm sai người tâm phúc đọc vang trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát (thuộc địa phận sông Như Nguyệt, khúc sông Cầu, huyện Yên Phong, lộ Bắc Ninh, nay là huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh)» - ngưng trích-. Như vậy, làm thế nào có thể khẳng định được bài thơ thần của của Lý Thường Kiệt tướng quân? https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_Th%C6%B0%E1%BB%9Dng_Ki%E1%BB%87t

Do đó, qua sự trình bày của chúng tôi ở những phần trên, bài thơ thần Sông Núi Nước Nam là của ngài Pháp Thuận thiền sư năm 981 thời vua Lê Đại Hành chứ không phải của tướng quân Lý Thường Kiệt năm 1076 thời vua Lý Nhân Tông.

Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

http://www.thuvienhoasen.info/tvhsvn_thien-su-thang-long-thanh/tnstlt_chuong-6.htm

***

Một nét về Tinh thần Dân tộc

TM

VIỆT CỘNG QUÁNH CHỆT CỘNG.

Quí vị bênh ai?

Tôi bênh Việt-cộng.

WISSAI

Tôi cũng bênh VC trong trường hợp nầy. Đánh đâu có ăn nhằm gì. Phải giết Tầu Chệt. Tàu và Miên là tử thù của Dân Việt.

Toàn dân Việt Nam phải nổi dậy đuổi, giết Tàu Chệt ra khỏi Nước Việt Nam. Nếu cần, tình nguyện là Tiểu Bang thứ 51 của Mỹ để bảo tồn Đất và Dân. Là tiểu bang của Mỹ không bị diệt chủng. Là tỉnh của Tàu sẽ bị đồng hoá và diệt chủng.

Tổng bí vc TRỌNG LÚ

Tôi đã nhiều lần giải trình rằng cơ chế Liên Bang XHCN Trung quốc là một mô hình hiện đại, đã tỏ ra thành công ở nhiều nơi, tuyệt vời. Ví dụ như Liên Âu (EU), Mỹ (USA), Úc, Canada. Nay, Đảng và Nhà nước ta đang phấn đấu đề xuất và tham gia Liên Bang XHCN Trung quốc (United States of Scocialist China – USSC). Trong khuôn khổ cơ chế này, hai Đảng Cộng sản sẽ hoà nhập hài hoà; vấn đề Nam sa, Tây sa đươc vĩnh viễn giải quyết dứt khoát trong tình hữu nghị Trung Việt. Đây cũng là môt mặt của quá trình triển khai phạm trù triết học: bảo vệ Đảng, bảo vệ cơ chế và giúp chủ nghĩa xã hội ở Việt nam tiến lên với thế giới giàu mạnh, đẹp đẽ bên cạnh đại cường Trung quốc.”

THƠ THẦN, Tuyên ngôn Độc Lập LÝ THƯỜNG KIỆT

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên phận định tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Sông núi nước Nam, vua nước Nam ở,

Phân vị rạch ròi đã ghi trong sách trời.

Cớ sao lũ giặc bạo ngược đến xâm phạm,

Chúng bây rồi xem, sẽ chuốc lấy thất bại tan tành.

TRẦN BÌNH TRỌNG

Trần Bình Trọng vốn là con cháu vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn), ông cha làm quan đời Trần Thái Tông, được đổi sang họ của nhà vua. Thế giặc đương mạnh. Trần Bình Trọng vì quân ít nên bị bắt. Quân Nguyên tra hỏi về việc nước, trước sau Trần Bình Trọng đều không trả lời. Ông cũng không chịu ăn uống gì. Giặc quay sang dụ dỗ ông:
- Có muốn làm vương đất Bắc không?
Trần Bình Trọng quắc mắt quát vào mặt giặc:
-
Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc!

BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cỏi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.

............................

Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thưà cơ gây hoạ
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi !
Lẽ nào trời đất dung tha? Ai bảo thần dân chịu được?

....................

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.

Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng
Quân thanh càng mạnh.

......................

Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc

Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;

TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VNCH

Nhân bản - Dân tộc - Khai phóng

Nhân bản. Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Đề cao những giá trị thiêng liêng của con người. Chủ trương sự phát triển quân bình và toàn diện của mỗi người và mọi người. Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc... Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

Dân tộc. Giáo dục tôn trọng giá trị đặc thù, các truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải biểu hiện, bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác. Giáo dục còn nhằm bảo đảm sự đoàn kết và trường tồn của dân tộc, sự phát triển điều hòa và toàn diện của quốc gia.

Khai phóng. Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải không ngừng hướng tới sự tiến bộ, tôn trọng tinh thần khoa học, mở rộng tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, tinh hoa văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới, góp phần phát triển sự cảm thông và hợp tác quốc tế, tích cực đóng góp vào sự thăng tiến nhân loại.

TIÊU CHUẨN BỔ NHIỆM QUÂN NHÂN - CÔNG CHỨC VNCH

Ứng viên phải có Tinh thần - Lập trường Quốc gia/Dân tộc vững chắc.

********

Cứ như những dữ kiện liệt kê kể trên, xem ra tinh thần dân tộc tự chủ ngày càng hao mòn suy thoái:

Từ chỗ " Nước Nam - Dân Nam ở "

Từ chỗ " Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;

Từ chỗ " Thà làm quỷ nước Nam, quyết không thèm làm vương Đất Bắc "

Đến nay thì:

Kẻ nầy nói:

" Nếu cần, tình nguyện là Tiểu Bang thứ 51 của Mỹ để bảo tồn Đất và Dân."

Kẻ kia bảo:

" Nay, Đảng và Nhà nước ta đang phấn đấu đề xuất và tham gia Liên Bang XHCN Trung cộng (United States of Scocialist China – USSC)."

Chung qui là: Dù cho dựa Mỹ, dựa tàu làm bang phụ dung gì cũng được miển sao sống lây lất qua ngày đoạn tháng dựa theo người cho được sang trọng thì thôi!

Nói cho thật, ở khoảng giữa cho tới trước ngày 30 tháng tư,1975 oan nghiệt, nhờ nền giáo dục Dân tộc - Nhân bản VNCH và nền hành chánh có quy củ, nhân dân Miền Nam vẫn còn giữ được tinh thần, lòng tự hào dân tộc khá vững chắc.

Chỉ từ ngày oan nghiệt kể trên, bọn quỉ đỏ hồ tinh hán ngụy xâm chiếm Miền Nam, tàn phá tan hoang, đưa Đất nước vào vòng tối tăm nô lệ chệt bắc phương mà thành ra nông nỗi.

Còn như bây giờ, muốn phục hồi Tinh thần Dân tộc - Truyền thống Nhân nghĩa của giống nòi Lạc Việt thời phải noi gương, nối chí người xưa trên tinh thần Bình Ngô Đại cáo:

" Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo; "

Trước nền chuyên chế toàn trị khắc bạc, vô nhân của hán ngụy việt cọng, toàn dân phải đồng lòng đứng lên tụ nghĩa, đem sức mạnh toàn dân tiểu trừ hán ngụy bạo ngược việt cọng.

Trừ xong bạo ngược việt cọng mới:

" Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân mà thay cường bạo. "

Tái lập đạo lý Nhân - Nghĩa, vỗ yên lòng dân, rồi mới theo truyền thống Diên Hồng, đoàn kết toàn dân, tập trung sức mạnh, uy quyền Quốc gia, kết ước Liên minh với các cường quốc lo bề phục hưng, tái thiết, phát triển Quốc gia mới có đủ tiềm năng tự vệ trong thời bình và chiến đấu chống xâm lăng khi lâm chiến.

Chỉ cầu mong mọi người còn chút lòng tha thiết về vận nước, mỗi người tùy theo năng lực, cương vị góp một bàn tay thì việc dấy nghĩa phục hưng Đất nước cũng có ngày.

Xin trích dẫn lời tha thiết của một người dân đang tranh đấu gian nguy trong nước:

" Hỡi ai, ai đứng bên lề

Nhặt dùm viên sỏi gồ ghề vướng chân "

Nguyễn Nhơn

 

Đang xem báo Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam

Flag Counter