lịch sử việt nam

Trang Chính

Bưu-Hoa Tem Thư Việt-Nam Cộng-Hòa:

Biển Cả Và Con Người:

Chết Bởi Trung Cộng

Lịch Sử Trung Cộng Cướp Nước Việt-Nam

Những Sự Thật Cần Được Biết Về Sinh-Hoạt Cộng Đồng Việt-Nam

Những Sự Thật Lịch-Sử Cần Phải Biết Về Lịch-Sử Và Phật Giáo Việt Nam

Pháp Luân Đại Pháp Cứu Độ Chúng Sanh

Sitemap

Southeast Asia Sea

Tự-Điển Địa Linh Nhân Kiệt Của Việt-Nam

Thư Mục Các trang Web Khác

Việt-Nam Ngô-đình-Diệm Ngô-đình-Nhu (nhìn lại lịch-sử Việt-Nam 52 năm 1963-2015):

 

Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

Việt-Nam Ngô-đình-Diệm Ngô-đình-Nhu (nhìn lại lịch-sử Việt-Nam 52 năm 1963-2015)

Southeast Asia Sea

quốc kỳ việt nam, cờ việt nam bay, cờ việt nam tung bay, cờ vn bay

southeast asia sea, biển Đông Việt Nam, south china sea, biển nam trung hoa, tranh chấp biển đông

Chuyên mục Southeast Asia Sea được thành lập nhằm khẳng định chủ quyền biển Đông từ hơn 10 ngàn năm của dân tộc Việt-Nam.

Từ hơn 10 ngàn năm qua, dân tộc Việt-Nam đã sống với biển, gần biển. Đây là nền văn minh chói sáng của tộc Việt.

Tình cảm gắn bó giữa biển và con người Việt Nam đã có chiều dài hàng 10 ngàn năm và tình cảm này vĩnh viễn không thể nào chia cắt được cho dù trải qua nhiều sự thay đổi của lịch sử.

***

Hội Sử-Học Việt-Nam
Vietnamese historical Association
Website : http://www.thuvienhoasen.info;

Công lý và công bằng

Trần Trung Chính

Ở Á Châu, thế chiến thứ hai đã bắt đầu ở Trung Hoa từ 1937 khi quân đội Nhật Bản tấn công thành phố Nam Kinh và giết hại nhiều thường dân Trung Hoa. Tiếp theo là hơn 100 sư đoàn bộ binh của đạo quân Quan Đông ( khoảng hơn 1 triệu binh sĩ) đóng quân tại biên giới Mãn Châu giáp ranh với Liên Sô. Sợ mặt trận phía Đông sẽ tan vỡ nếu quân Nhật tấn công, cho nên Staline cũng điều động khoảng 80 sư đoàn trấn giữ biên giới.( Vùng Siberia – Mãn Châu vào năm 1905 đã là chiến trường của quân đội Nhật Bản và quân đội của Tsar Hoàng Nicolas II, mà phía thắng trận là quân đội Nhật Bản)

Ở phía Âu Châu, phía Đức Quốc Xã của Hitler cũng chuẩn bị sẵn sàng ứng chiến với 150 sư đoàn bộ binh, 5000 phi cơ khu trục tân tiến và hàng ngàn chiến xa xung kích hiệu Panzer với động cơ mạnh chạy nhanh và hỏa lực hùng hậu gắn trên chiến xa có thể xung kích và bảo vệ bộ binh khi tiến chiếm mục tiêu. Phương thức tấn công kiểu trên không với các phi cơ khu trục, dưới đất có chiến xa xông pha trên tuyến đầu bộ binh tùng thiết đi theo sau là phát minh chiến thuật của tướng Gueridan. Đại Tá Charles De Gaulle khi còn là lữ đoàn trưởng của lữ đoàn thiết giáp đã viết thư yêu cầu Bộ Quốc Phòng Pháp phải cải tổ và nâng cao hiệu suất chiến đấu của cả binh chủng Thiết Giáp lẫn bộ binh theo chiều hướng của tướng Gueridan. Khốn nỗi ông chỉ mới là Đại Tá và các tướng lãnh quân sự của Bộ Quốc Phòng Pháp đều là những “anh hùng dân tộc” từ thời đệ nhất thế chiến như Thống Chế Pétain, Thống Chế Juin …chuyên về “chiến tranh địa đạo” để phòng ngự, nên lời thỉnh cầu của Đại Tá Charles De Gaulle được các “bề trên” xem qua rồi bỏ vào xọt rác.

Hồng Quân Liên Sô của Staline cũng không khá gì hơn liên quân Anh – Pháp – Bỉ - Hà Lan , nghĩa là bộ binh chiến đấu mà không có phi cơ khu trục và chiến xa yểm trợ, cho nên sau khi quân đội Đức thanh toán xong Bỉ - Hà Lan – Pháp trong một thời gian ngắn, buộc được hơn 100,000 bộ binh Anh Quốc phải rút lui sang bên kia biển Manche qua cảng Dunkerque ; quân đội Đức quay qua phía Đông tấn công Liên Sô thì Staline đã phải lui binh liên tiếp tới tận Stalingrad (St Peterburg bây giờ) . Sau này khi tướng Eisenhower giải phóng Âu Châu , khi đi qua nước Đức ông mới thấy rằng Hitler đã xây dựng hệ thống xa lộ 2-3 tầng xuyên Đông – Tây nên khi bị tấn công, Staline quá ngạc nhiên và thắc mắc không hiểu tại sao quân đội Đức lại di chuyển từ phía Tây Âu tiến sang Đông Âu xuyên thủng hàng phòng ngự dầy đặc của Hồng quân Liên Sô trú đóng tại những vùng giáp ranh Ba Lan và Tiệp Khắc quá mau lẹ như vậy.

Người cứu nguy cho Hồng Quân Liên Sô là một phóng viên người Đức (đảng viên Đảng Cộng Sản Đức) công tác tại Tokyo cho một tờ báo ở Đức. Anh này chỉ với tài quan sát đã báo cáo cho Bộ Tổng Tham Mưu Liên Sô là quân đội Nhật Bản sẽ tấn công Hoa Kỳ trên mặt biển chứ không tấn công Liên Sô trên đất liền. Sau này nhờ hệ thống phản gián trên hệ thống telegram, người Nhật đã xử tử người gián điệp này nhưng không có giới chức cao cấp nào của quân đội Nhật bị bắt vì điệp viên của Liên Sô không hề tiếp xúc với bất cứ giới chức quân sự nào. Những điểm ghi nhận của điệp viên Liên Sô như sau :

1/ Hơn 95% các giới chức cao cấp trong Bộ Tổng Tham Mưu của quân đội Nhật đều là Thủy Sư Đô Đốc hay Đô Đốc Hải Quân,

2/ Các tư lệnh chiến trường cũng là những tướng lãnh của Hải Quân chiếm đa số.

3/ Sinh viên sĩ quan gia nhập các trung tâm huấn luyện đa số đều là những sinh viên sĩ quan lái máy bay của hải quân và họ đã được huấn luyện và thực tập trên các hàng không mẫu hạm.

4/ Vũ khí mới mà Bộ Quốc Phòng Nhật đặt hàng trên các tổ hợp kỹ nghệ như Mitsui, như Mitsubishi..đều dành cho hải quân như phi cơ Zero, các đại pháo đặt trên các chiến hạm, các tiềm thủy đĩnh, ngư lôi, phóng ngư lôi, các tàu chở dầu để tiếp nhiên liệu cho những chuyến hải hành đi xa ….

5/ Các bản đồ tác chiến đặt tại Tổng Hành Dinh, tại các văn phòng các Bộ Tư lệnh chiến trường đều là những bản đồ của Thái Bình Dương và các hải đảo xa với nước Nhật.

Nhờ vậy Staline đã rút khoảng 70 sư đoàn bộ binh từ mặt trận phía Đông (chỉ để lại 10 sư đoàn) đem về phía Tây chống đỡ (sự chuyển quân xảy ra trước tháng 12 năm 1941) ; đó là lý do chính đạo quân 300,000 binh sĩ của Thống Chế Von Paulus bị đứng khựng lại tại Stalingrad và không thể tiến quân về phía Moscow được. Hirler gây chiến tại Âu Châu vào năm 1939, và Hitler yêu cầu Nhật Bản mở mặt trận tại Á Châu cùng thời điểm, nhưng vì chuẩn bị chưa xong nên mãi tháng 12 năm 1941, hải đội Nhật Bản mới tấn công Pearl Harbourg ở Hawaii. Và như chúng ta được biết, sau khi bị tấn công ở Trân Châu Cảng, Hoa Kỳ mới chính thức tham chiến.

Khi quân đội Nhật Bản vào Trung Hoa, Tổng Thống Tưởng Giới Thạch không mở những trận đánh chống lại mà rút chính phủ về Trùng Khánh – một thành phố nằm trong tỉnh Tứ Xuyên, nằm sâu trong nội địa Trung Hoa về phía Tây, giáp ranh giới với Tây Tạng . Và quân đội Nhật Bản chiếm dọc các tỉnh phía Đông cận biển chứ không truy đuổi quân đội Trung Hoa vào sâu trong nội địa về phía Tây.

Trước khi trở thành lãnh tụ chính trị của Quốc Dân Đảng Trung Hoa, ông Tưởng Giới Thạch là một quân nhân chuyên nghiệp và đã đi du học tại các trường Võ Bị của Nhật Bản. Sau Cách Mạng Tân Hợi (1911) , Bác sĩ Tôn Dật Tiên chỉ định Tướng Tưởng Giới Thạch làm Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Hoàng Phố (Trường Võ Bị Hoàng Phố nằm gần thành phố Quảng Châu – thuộc tỉnh Quảng Đông, phía Nam của Trung Hoa). Trong những năm cầm quyền sau Cách Mạng Tân Hợi, ông Tôn Dật Tiên có khuynh hướng thiên về cánh tả. Lénine của Liên Sô có gửi sang Trung Hoa một phái đoàn cố vấn để giúp cho chính phủ Trung Hoa điều hành đất nước, phái đoàn cố vấn của Liên Sô do Borodine cầm đầu. Dưới áp lực và tiến cử của Borodine, Tôn Dật Tiên đành phải bổ nhiệm Chu Ân Lai làm Chính Ủy của Trường Võ Bị Hoàng Phố. Năm 1925, Bác Sĩ Tôn Dật Tiên qua đời, các quân phiệt miền Bắc Trung Hoa với binh quyền trong tay, xưng hùng xưng bá mà các sử gia gọi họ là các sứ quân. Các lãnh tụ chính trị trong Quốc Dân Đảng Trung Hoa tôn ông Tưởng Giới Thạch kế vị Bác Sĩ Tôn Dật Tiên. (Có sách gọi là Tổng Tài, cũng có sách gọi là Tổng Thống).

Các tướng lãnh miền Nam nhất loạt đề cử Tướng Tưởng Giới Thạch lên làm Nguyên Soái (cấp bậc trong quân đội, cho nên có khi người ta gọi Tướng Giới Thạch là Thống Chế Tưởng Giới Thạch) với chức vụ Tổng Tư Lệnh Đạo Quân Bắc Phạt. Sau khi các sứ quân miền Bắc bị dẹp tan, Tổng Thống Tưởng Giới Thạch đuổi phái bộ cố vấn của Borodine trở về Liên Sô và quay sang đánh đuổi phe Cộng Sản. Những người cầm đầu của phe Cộng Sản Trung Hoa như Mao Trạch Đông , Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Bành Đức Hoài, Đặng Tiểu Bình, Chu Đức …phải bỏ chạy. Sử gia của Trung Cộng gọi cuộc bỏ chạy này là Vạn Lý Trường Chinh vì đoạn đường bỏ chạy lên đến hơn 11,000 km.

Các bình luận gia chính trị của Trung Hoa cho rằng lối suy nghĩ của các lãnh tụ Cộng Sản Liên Sô khi ứng dụng vào Trung Hoa không hữu hiệu. Người Trung Hoa vẫn mang nặng quan niệm QUÂN – SƯ – PHỤ, cho nên các sinh viên sĩ quan đã học trong trường Võ Bị Hoàng Phố của 15 năm trước, cho đến năm 1925 đã là các tướng lãnh nắm giữ các sư đoàn, quân đoàn , lộ quân…vẫn cứ nghe lời sư phụ Tưởng Giới Thạch (Chỉ Huy Trưởng) chứ không nghe lời ông chính ủy Chu Ân Lai !!! Khi Quốc Dân Đảng đề cử Tướng Tưởng Giới Thạch thay thế Bác Sĩ Tôn Dật Tiên thì lời nói của ông càng nặng ký hơn nữa vì thực ra Tổng Tài hay Tổng Thống có khác danh hiệu nhưng người Hoa coi như ông lên ngôi Hoàng Đế .

Mô tả hơi dài dòng về Tổng Thống Tưởng Giới Thạch để độc giả thấy rằng các cuộc chiến tranh sau 1925 tại Trung Hoa đều là những cuộc nội chiến, tranh dành quyền lực, do đó Tướng Tưởng Giới Thạch thành lập các sư đoàn “khinh chiến” để dẹp nội loạn (sư đoàn khinh chiến không có các đơn vị pháo binh bắn cầu vồng và cũng không có thiết giáp). Đó là lý do khi quân đội Nhật Bản đem 2 triệu quân vào Trung Hoa, Tướng Tưởng Giới Thạch phải né tránh không giao chiến để bảo toàn lực lượng : quân đội Nhật là đạo quân đi xâm lăng nên trang bị hùng hậu có pháo binh , có thiết giáp, có xe vận tải để chuyển quân…

Năm 1942, tướng Trương Học Lương (con trai của sứ quân Trương Tác Lâm, người bị tử nạn vì xe lửa trúng mìn ở bán đảo Liêu Đông khi Tướng Tưởng Giới Thạch đem quân Bắc Phạt) bắt cóc Tổng Thống Tưởng Giới Thạch ở Diên An và ra điều kiện phải dùng quân đội Trung Hoa chống lại Nhật Bản chớ không được hành quân chống Cộng Sản nữa. Ở vào thế kẹt, Tổng Thống Tưởng Giới Thạch phải chấp nhận điều kiện của tướng Trương Học Lương. Và chúng ta thấy quân Cộng Sản thoát được vòng vây rồi dần dần bành trướng vùng kiểm soát, trong khi quân đội của Trung Hoa Quốc Dân Đảng bị tổn thất rất nặng khi mở những cuộc hành quân chống quân ngoại xâm Nhật Bản : tổn thất nặng vì hỏa lực thua kém và thiếu khả năng di động !!!

Mặt trận phía Âu Châu chấm dứt từ tháng 5/1945 sau khi Hitler tự sát và quân đội Đồng Minh tiến vào Berlin. Hội nghị Postdam nhóm họp để phân chia lãnh thổ của các nước bị thua trận, trong đó quy định quân đội Trung Hoa sẽ giải giới quân Nhật trên đất liền (bao gồm đạo quân Quan Đông trú đóng tại vùng Mãn Châu và các đơn vị trú đóng ở phía Đông Trung Hoa và sẽ giải giới quân đội Nhật trú đóng tại Đông Dương cho đến vĩ tuyến 16). Tuy nhiên, Staline đã vi phạm thỏa ước Postdam bằng cách 3 ngày trước khi Nhật Bản ký thỏa ước đầu hàng Đồng Minh trên chiến hạm Missouri, Liên Sô tuyên chiến với Nhật Bản. Do đó Liên Sô giải giới đạo quân Quan Đông tại Mãn Châu và tịch thu toàn bộ các phương tiện chiến tranh của đạo quân 01 triệu người này.

Quân Đội Trung Hoa của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch trên đường di chuyển lên Mãn Châu đã bị quân Cộng Sản của Mao - Chu chận đánh , tuy chiến thắng với thành tích giết hơn 65,000 quân Cộng Sản nhưng đại quân của Mao Trạch Đông đã đến Mãn Châu trước và đã được Hồng Quân Liên Sô chuyển giao số lượng vũ khí khổng lồ của quân đội Nhật Bản. Trong những năm 1946,1947,1948 quân đội của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch bị thiệt hại nặng nề vì không có vũ khí nặng, Tướng Marshall đích thân qua gặp Tổng Thổng Tưởng Giới Thạch tại Trùng Khánh năm 1946, nhưng Hoa Kỳ không có khả năng viện trợ vũ khí nặng cho Trung Hoa vào thời điểm năm 1946 với nhu cầu trang bị và huấn luyện cho hơn 100 sư đoàn bộ binh. Sự thiệt hại nhân mạng của quân đội Trung Hoa Quốc Dân Đảng rất to lớn (khoảng 01 triệu binh sĩ tử trận và tan vỡ hơn 100 sư đoàn) đã buộc Tổng Thống Tưởng Giới Thạch rút lui ra đảo Đài Loan vào năm 1949. Người Việt quốc gia cảm thương cho Tổng Thống Tưởng Giới Thạch, ông thua trận vì có những sự kiện ngoài tầm tiên liệu của ông, số phận của nước Việt Nam cũng lệ thuộc vào số mệnh của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch, bởi vì nếu Tổng Thống Tưởng Giới Thạch giữ vững được miền Hoa Nam thì không cách gì Hồ chí Minh và Đảng CSVN có thể tố chức được trận Điện Biên Phủ để rồi chia 2 Việt Nam như thực tế đã xảy ra vào năm 1954.

Ngay sau khi chiếm được Trung Hoa lục địa, Mao Trạch Động đã chỉ thị các tướng lãnh của quân đội Trung Cộng giúp đỡ tận tình cho Hồ chí Minh và Đảng CSVN : tướng Võ Nguyên Giáp mở các chiến dịch biên giới vào năm 1950 khiến các tướng lãnh quân đội Pháp tại Bắc Việt bị thua tại nhiều mặt trận như đã để mất quân khu Lạng Sơn, vùng Đông Triều – Hải Dương (giáp với mỏ than Hòn Gay) bị uy hiếp nặng nề, khu Hà Giang – Sơn La cũng phải lui về trạng thái phòng ngự…Chính phủ Pháp bổ nhiệm Thống Tướng De Lattre De Tassigni sang Đông Dương làm Tổng Tư Lệnh và tăng thêm quân số lên tới 220,000 người. Là một tướng giỏi, Thống Tướng De Lattre De Tassigni đã bẻ gãy được nhiều mũi tiến công của quân đội Việt Minh và đẩy lui họ sang bên kia biên giới Hoa – Việt. Chính phủ Pháp cũng đã đề cử Thống Tướng Tassigni sang Hoa Kỳ cầu viện, chính phủ Hoa Kỳ dưới thời Tổng Thống Eisenhower cũng giúp cho quân đội Pháp tại chiến trường Đông Dương nhiều quân trang quân dụng, nhưng không thể vượt trội quân Việt Minh về hỏa lực vì Trung Cộng đã đem quân trang quân dụng của đạo quân Quan Đông ra sử dụng tại chiến trường Cao Ly và chiến trường Bắc Việt.

Năm 1953, Tổng Thống Eisenhower bổ nhiệm Đại Tá Lansdale cầm đầu phái bộ viện trợ quân sự sang Việt Nam. Theo nhận xét của người viết bài, căn cứ vào những hoạt động của Đại Tá Lansdale chỉ tại miền Nam không thôi, thì Hoa Kỳ đã bỏ miền Bắc Việt Nam trước khi giải pháp chia đôi Việt Nam xảy ra qua Hiệp Định Genève 1954. Và sự viện trợ quân sự của Hoa Kỳ cho quân đội viễn chinh Pháp thực sự không phải giúp đế quốc Pháp giữ được thuộc địa tại Đông Dương, mà là mượn tay của quân đội viễn chinh Pháp tiêu diệt bớt tiềm năng chiến tranh của Việt Minh. Diễn dịch theo phương diện chính trị cũng có nghĩa là Hoa Kỳ đi mua thời gian để giúp cho chính quyền miền Nam (sau khi chia cắt) có thể đứng vững được không bị quân đội Việt Minh nuốt chửng.

Sau khi Mao Trạch Đông chiếm được toàn Hoa Lục, ông Ngô Đình Nhu nhận chân ra rằng Hoa Kỳ tuy ở xa Việt Nam hơn 10,000 kilometre, nhưng sẽ là một đại cường chi phối ảnh hưởng chính trị trên toàn vùng Đông Nam Á. Chính những thư tay của ông Ngô Đình Nhu gửi cho các chính trị gia có ảnh hưởng trên chính trường Hoa Kỳ thời đó, đã là những lý do quan trọng đưa ông Ngô Đình Diệm lên làm Thủ Tướng Chính Phủ trong lúc dầu sôi lửa bỏng. Những nhóm chống đối chế độ Ngô Đình Diệm cứ độc diễn la làng lên rằng Ngô Đình Diệm là “tay sai” do Mỹ đưa về nắm chính quyền. Chính phủ Mỹ viện trợ cho miền Nam từ quân sự, kinh tế, tài chính, nhân sự…là một cuộc đầu tư lớn ; vì vậy người điều hành chính phủ Việt Nam phải là người có khả năng và biết việc. Không khi nào chính phủ Mỹ sử dụng người theo cảm tính (vì cùng đạo Thiên Chúa chả hạn ), người Mỹ luôn theo học thuyết thực dụng, cho nên ngay cả điều hành một cơ sở thương mại nhỏ, họ cũng thuê một manager có khả năng chứ không đưa cho em cháu hay bà con ra điều hành. Huống hồ viện trợ cho một quốc gia là chuyện hệ trọng thì họ chẳng bao giờ chọn người theo “cảm tính” !

Cuối thập niên 1950 , một bác sĩ quân y người Australia (có tham dự chiến tranh tại Triều tiên) có viết một tập sách nhỏ có tựa đề là :” BẠN ĐÃ HIỂU GÌ VỀ CỘNG SẢN ĐỂ CÓ THỂ TRỞ THÀNH NGƯỜI CỘNG SẢN? “ . Tôi chỉ đọc bản dịch chứ chưa đọc bản chính viết bằng Anh ngữ, trong tập sách này tác giả đã đưa ra những định nghĩa của người Cộng Sản để cho độc giả thấy rằng tuy dùng một số từ giống nhau (giống về mặt chính tả), nhưng ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Thí dụ :

Hòa Bình : Lénine định nghĩa Hòa Bình có ý nghĩa là “trên thế giới không còn chủ nghĩa tư bản”
Hòa Bình (của các quốc gia không Cộng Sản) là tình trạng không có chiến tranh.

Chính vì không hiểu rõ định nghĩa của Lénine mà phe quốc gia chúng ta luôn kết án CSVN vi phạm thỏa ước hòa bình đã ký kết, bởi vì ngưng bắn nhưng Việt Cộng vẫn giết binh sĩ và viên chức VNCH bằng dao găm, mã tấu, giây thừng thắt cổ, bằng chông nhọn có tẩm thuốc độc, bằng cung tên, ná ở vùng cao nguyên… Hoa Kỳ có biết sự khác biệt về 2 chữ HÒA BÌNH của Cộng Sản hay không ? Chắc là biết, vì những Thinks Tank của Hoa Kỳ cho rằng “Hòa Bình thật sự với Việt Cộng chỉ có được khi các cán binh Việt Cộng bị giết gần hết”. Tôi cho rằng sau 10 năm chiến đấu tại chiến trường Việt Nam, quân đội Hoa Kỳ đã giết hơn 3 triệu tinh binh của Bắc Việt (nếu so sánh dân số khoảng 25 triệu người mà lứa tuổi thanh niên bị giết hơn 10% thì quả thực Bắc Việt không còn gì để theo đuổi chiến tranh). Dẫn chứng : chiến trường Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 và chiến trường năm 1975, cán binh Việt Cộng đều nhỏ tuổi thậm chí có kẻ chưa đến 16 tuổi !!!

Nhân dịp kỷ niệm ngày giỗ của anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, cá nhân người viết đã đọc kỹ những tài liệu mới viết gần đây như Kế Hoạch Đánh Dinh Gia Long của Mỹ do ông Thẩm Phán Nguyễn Cần biên soạn, bài viết của phóng viên RFA Mặc Lâm khi phỏng vấn ông Bùi Kiến Thành với tựa đề TẠI SAO PHẢI GIẾT TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM ? . Hoặc bài viết CHỐNG CỘNG BẰNG GÌ của ông Vũ Linh Châu, kể cả tài liệu bênh vực Tướng Dương Văn Minh (trích từ báo Góp Gió của ông Võ Văn Sáu ở Seatte) thậm chí bài viết chửi rủa thậm tệ Tướng Trần Thiện Khiêm của Thiếu Tá Trần Ngọc Giang – nguyên sĩ quan tùy viên của Tướng Khiêm vào thời điểm tháng 11 năm 1963.

Nhận xét của cá nhân người viết bài này là : tất cả những tài liệu và các tác giả vừa nêu, đã chỉ đưa được những chi tiết rành mạch của HIỆN TƯỢNG mà không có một ai đưa ra được BẢN CHẤT của vấn đề. Dẫn chứng :

1) Ông Lữ Giang Nguyễn Cần kết tội Tướng Trần Thiện Khiêm và Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu là 2 điệp viên CIA, đóng vai trò chính trong cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963, nhưng đọc hết bài viết của ông Lữ Giang, cá nhân tôi vẫn không thấy ông Lữ Giang đưa ra được lý do nào 2 sĩ quan này lại làm điệp viên CIA ?

2) Ông Bùi Kiến Thành – con trai của Bác Sĩ Bùi Kiến Tín, cho rằng ông Ngô Đình Diệm là người theo chủ nghĩa dân tộc nên người Mỹ lật đổ ông Diệm vì ông Diệm sẽ không theo sự dẫn dắt của họ. !

3) Ông Diệm bị giết vì phe đảo chánh sợ ông lật ngược thế cờ như hồi 1960 ông đã làm trong cuộc chính biến do Đại Tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu .

4) Ông Bùi Kiến Thành cho rằng các tướng lãnh nghe theo người Mỹ vì họ không hiểu lý tưởng, không hiểu được chính nghĩa như thế nào, không hiểu được tình hình chiến lược trên thế giới nên đã làm công việc tự sát hại mình, đi đến chỗ 10 năm sau phải chắp tay đầu hàng Cộng Sản.

5) Ông Vũ Linh Châu thì cho rằng các tướng lãnh, các nhà lãnh đạo tôn giáo, các chính đảng…đã chủ mưu hay trực tiếp tham gia vào biến cố ngày 1 tháng 11 năm 1963 đều có tội vì phá hoại mà không hề có kế hoạch hay phương tiện để xây dựng một cái mới khác thay thế.

6) Nhưng tệ hại nhất phải nói là ngôn từ của Thiếu Tá Trần Ngọc Giang đối với Tướng Trần Thiện Khiêm vì dầu sao Tướng Trần Thiện Khiêm chỉ không trung thành với Tổng Thống Diệm mà thôi, chứ ông chưa hề bao giờ là kẻ phản quốc như Hồ chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…Chính cá nhân người viết bài đã đả kích các phe nhóm chính trị và tôn giáo chống Tổng Thống Ngô Đình Diệm về việc ông tổ chức trưng cầu dân ý truất phế vua Bảo Đại vào tháng 10/1955 với lý do không trung thành với vua Bảo Đại, nhất là vua Bảo Đại trao chức Thủ Tướng cho ông Ngô Đình Diệm. Chuyện gánh vác trách nhiệm đối với quốc gia là trách nhiệm chung của mọi công dân trong một nước, cho nên không được coi chuyện trao chức Thủ Tướng cho ông Ngô Đình Diệm là đặc ân của riêng cá nhân vua Bảo Đại. Tương tự như vậy, khi Tướng Trần Thiện Khiêm và Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu đóng vai trò chính trong cuộc binh biến ngày 1 tháng 11 năm 1963 thì không phải là chuyện to lớn để Thiếu Tá Giang viết ra những lời hằn học thiếu tử tế đến như vậy !

Nhận định của người viết bài đối với các sự kiện vừa nêu trên nhưng nhìn dưới một góc độ khác của chính trị có thể khiến các nhân vật dính líu đến biến cố ngày 1 tháng 11 năm 1963 phải được đánh giá lại – dĩ nhiên là hoàn toàn trái ngược với nhận định của các ông Lữ Giang Nguyễn Cần, ông Bùi Kiến Thành, ông Vũ Linh Châu, Thiếu Tá Trần Ngọc Giang …:

Nhận định thứ nhất : Ông Lữ Giang viết : “ Đại Tá Trần Thiện Khiêm và Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu đã được ông Diệm cho đi học Khóa Chỉ Huy và Tham Mưu tại Command and General Staff College ở Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ, khóa 1957 – 1958 với một số sĩ quan khác “ – Ngưng trích. Tôi tin chắc là ông Lữ Giang không biết lớp huấn luyện đó đã dạy những gì. Đại Úy Trương Thúc Cổn – nguyên trưởng phòng Tâm Lý Chiến của Bộ Tư Lệnh LLĐB có đi học tham mưu tại trường Leavenworth vào năm 1969 (hiện nay đang định cư tại West Sacramento) cho tôi biết rằng quân đội Hoa Kỳ rất chu đáo, đã huấn luyện nhiều sĩ quan của các nước Đồng Minh của Hoa Kỳ với nhiều trình độ khác nhau. Đại úy Cổn có hỏi thăm một số Đại Tá của QL/VNCH cùng học tại Leavenworth vào năm 1969 thì được biết các vị Đại Tá theo học lớp Chỉ Huy Tham Mưu Liên Quân Đồng Minh. Theo ý kiến của người viết, Đại Tá Trần Thiện Khiêm và Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu cộng tác với chính phủ Hoa Kỳ chính là nhờ sự hiểu biết thế trận toàn cầu của Hoa Kỳ trên toàn thế giới mà chiến trường Việt Nam chỉ là một mặt trận có tầm vóc của vùng Đông Nam Á Châu mà thôi.

Nhận định thứ hai : rất nhiều các chính trị gia của Việt Nam (kể cả Việt Cộng và nhất là các lãnh tụ của PGVN khối Ấn Quang) quá chủ quan khi lượng giá sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Một câu hỏi mà các chính trị gia Việt Nam không bao giờ nghĩ tới, đó là giả dụ cả khối Phật giáo chiếm 75% dân số, khối Thiên Chúa giáo chiếm 15% dân số, khối Cao Đài chiếm 5% dân số và khối Phật Giáo Hòa Hảo chiếm 5% cùng tất cả các đảng pháii chính trị khác, cùng nhau đoàn kết chống Cộng mà không có sự viện trợ của Hoa Kỳ thì liệu có chiến thắng được Việt Cộng hay không ? Câu trả lời rõ ràng nhất mà mọi người đều biết, đó là KHÔNG. Như vậy nhận xét của ông Bùi Kiến Thành cho rằng người Mỹ lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm vì sợ ông theo chủ nghĩa dân tộc, sẽ chống lại ý kiến “sai bảo” của người Mỹ là thiếu cơ sở hợp lý .

Nhận định thứ ba : chính phủ Hoa kỳ đã nhiều lần gửi messages để thay thế chính phủ Ngô Đình Diệm, nhưng Tổng Thống Diệm không nghe và cũng không chịu hiểu nên chính phủ Hoa Kỳ đạo diễn vụ khủng hoảng Phật Giáo để đưa các tướng lãnh tổ chức đảo chánh. Tài liệu đã giải mã và do ông Lâm Lễ Trinh sưu tầm từ năm 2002 cho hay rằng, ngay buổi sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963, khi nói chuyện với Đại sứ Henry Cabot Lodge, trước khi dứt lời, ông Lodge còn nhắn là : nếu Tổng Thống cần một chỗ để ra đi thì hãy gọi cho tôi. Những việc khác, xin đừng”. Ấy thế mà Tổng Thống Diệm gọi điện thoại vào Bộ Tổng Tham Mưu thì số mạng của ông đã tới hồi chấm dứt. Một điểm khác mà Thiếu Tá Trần Ngọc Giang không biết, đó là trong phiên họp của các tướng lãnh tham gia đảo chánh, tất cả các tướng đều biểu quyết phải giết Tổng Thống Diệm, chỉ độc nhất Tướng Trần Thiện Khiêm bỏ phiếu “Không”

(Ghi chú : Luật Sư Nguyễn Hữu Hiệu khi làm việc tại văn phòng Tổng Công Đoàn Lao Động Việt Nam đã được chính ông Trần Quốc Bửu cho hay tin này) .

Nhận định thứ tư : chính phủ Hoa Kỳ không thể giúp VNCH mãi mãi để chống Cộng được, vì cơ chế dân chủ của chính trị Hoa Kỳ không cho phép làm như vậy ( Tổng Thống cũng tối đa cầm quyền được 2 nhiệm kỳ = 8 năm).Trong các cuộc tiếp xúc kín đáo với đại diện cấp cao của chính phủ Hoa Kỳ, Tổng thống Ngô Đình Diệm và Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu không thể trả lời được 2 câu hỏi của phía Hoa Kỳ, đó là : Làm thế nào để chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam ? Chiến tranh Việt Nam kéo dài cỡ bao lâu thì chấm dứt ? Chính phủ Hoa Kỳ đưa đề nghị đem quân đội Hoa Kỳ vào tham chiến trực tiếp tại Việt Nam để dùng ưu thế hỏa lực tiêu diệt tiềm năng chiến tranh của Bắc Việt, thì Tổng Thống Diệm và cố vấn Nhu cương quyết chống đối. Đây mới là lý do chính để chính phủ Hoa Kỳ bứng bỏ chính phủ của Tổng Thống Diệm.

Nhận định thứ năm : chính phủ VNCH do Tướng Dương Văn Minh lãnh đạo bị buộc phải đầu hàng Việt Cộng vì Hoa Kỳ muốn như vậy : Hoa Kỳ muốn VNCH thua trận để chiến tranh mới thực sự chấm dứt. Nếu giúp VNCH cầm cự ngang ngửa (chứ không nói đến việc chiến thắng) thì bọn Việt Cộng cứ theo đuổi chiến tranh hoài. Còn nếu giúp VNCH chiến thắng Bắc Việt thì sẽ còn nhiều việc rắc rối nhiêu khê lắm lắm mà VNCH không thể đảm đương nổi. Dẫn chứng : Tây Đức với dân số lớn gấp 3 Đông Đức, có tổng lợi tức đầu người và nền kinh tế vững mạnh đứng thứ nhì sau Hoa Kỳ; vậy mà khi thống nhất 2 miền, Tây Đức phải chịu gánh nặng chia sẻ cho Đông Đức mãi hơn 15 năm sau mới lấy lại được thăng bằng

Nhận định thứ sáu : Ông Vũ Linh Châu trách cứ Tướng Dương Văn Minh là phá bỏ chương trình Ấp Chiến Lược thì lấy gì chống Cộng ? Đây không phải là lỗi của Tướng Dương Văn Minh, vì chương trình Ấp Chiến Lược chỉ ngăn chận được du kích tại địa phương chứ không ngăn chận được quân ngoại nhập từ miền Bắc theo đường xa lộ Hồ chí Minh xâm nhập miền Nam, mặt khác chính phủ Hoa Kỳ thông qua Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ không chịu chi tiền cho chương trình Ấp Chiến Lược nữa, chả lẽ bắt Tướng Dương Văn Minh bỏ tiền túi ra chi trả lương bổng cho nhân viên cán bộ của chương trình Ấp Chiến Lược hay sao ?

Tôi đoan chắc Đại Tướng Trần Thiện Khiêm không làm công tác chính trị, vì chính ông đã có khả năng tổ chức và điều khiển các cuộc đảo chính tại miền Nam từ 1963 đến 1966, nhưng ông không lên làm Chủ Tịch VNCH như tướng Nguyễn Khánh. Ông cũng chẳng đoái hoài đến chức Tổng Tham Mưu Trưởng QĐ/VNCH như nhiều người đã phỏng đoán hay gán ghép. Mà công tác của ông là công tác TÌNH BÁO CHIẾN LƯỢC : ông đã liên tiếp đứng đằng sau hậu trường điều khiển các chuyển động quân sự và biến động chính trị để cho bọn lãnh đạo CSBV tưởng rằng miền Nam sắp sụp đổ đến nơi cho nên ồ ạt kéo đại quân vào Nam. Khi đã đem đại quân vào Nam , mặc dù tổn thất nặng nề nhưng không dám rút quân về Bắc vì khi rút quân về Bắc cũng có nghĩa là niềm tin vào chế độ của nhân dân và quân đội sẽ không còn nữa thì đương nhiên chính quyền Cộng Sản sẽ hoàn toàn sụp đổ.

Nếu chiến tranh Việt Nam là một kịch bản do chính phủ Hoa Kỳ viết truyện phim và kiêm vai trò đạo diễn thì Đại Tướng Trần Thiện Khiêm là một diễn viên xuất sắc, kết quả chung cuộc là hơn 3 triệu tinh binh của Bắc Việt bị hỏa lực của quân đội HK và VNCH tiêu diệt. Và theo sự suy nghĩ của riêng tôi, đó là một chiến công vĩ đại mà không có vị tướng nào của VNCH qua mặt được Đại Tướng Trần Thiện Khiêm và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Nếu tôi nhớ không lầm thì năm sinh của Đại Tướng Trần Thiện Khiêm là năm 1926, nghĩa là ông sắp sửa bước vào tuổi 90. Một lứa tuổi sắp sửa ra đi theo đúng luật tuần hoàn của thiên nhiên, thành thử nhân bài viết này tôi mạo muội đưa ý kiến đề nghị 3 vị sĩ quan cao niên của QL/VNCH là Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình ở San José , Đại Tá Phạm Bá Hoa ở Texas và Đại Tá Vũ Văn Lộc ở San Jos é, quý vị nên tổ chức một bữa tiệc mừng tuổi thượng thọ 90 của Đại Tướng Trần Thiện Khiêm. Dẫu biết rằng bài viết này không dễ dàng xóa bỏ hoàn toàn những ngộ nhận và thiên kiến đối với cá nhân và sự nghiệp của Đại Tướng Khiêm, nhưng chúng ta – những người đương thời đã từng tham chiến với Đại Tướng cần gặp nhau để cùng nhau nói chuyện tử tế với một cấp chỉ huy có công với đất nước. Đại Tướng Trần Thiện Khiêm thì đâu có cần vinh danh hay phần thưởng vật chất quý giá nào. Cái mà ông cần đó là sự hiểu biết và thông cảm với vai trò “tế nhị” mà ông đã đảm trách trong thời kỳ đấu tranh sống còn của VNCH. Bữa tiệc mừng tuổi thượng thọ 90 của ông – nếu có tổ chức được, còn giúp ông ra đi trong thanh thản không đến nỗi như nhà thơ Nguyễn Du vẫn hay tự hỏi :: “Không biết 300 năm sau nữa, có còn ai nhắc đến Tố Như hay không “.

Tôi xin mượn một câu trong bài hát của nhạc sĩ Trần Duy Đức để chấm dứt bài viết này “ Nếu có yêu tôi, thì hãy yêu ngay bây giờ. Đừng để ngày mai…..”

San José , mùa lễ Hallowen 2015, ngày 31 tháng 10.

Trần Trung Chính

Đang xem báo Thư-Viện Hoa Sen Việt-Nam

Flag Counter